Chủ nhật 28/05/2017 17:32

Những mái ấm nơi cửa thiền

07:10 | 11/02/2017

|
 Chùa vốn là nơi yên tĩnh để các nhà sư tịnh độ tu hành, lánh xa cõi trần tục. Nhưng ở chùa Mạc Thượng (Hà Nam), chùa Trúc Lâm (Hải Dương) thì không chỉ là nơi tu hành, mà ở đó sư thầy trụ trì cùng phật tử đã mở rộng tấm lòng từ bi để cưu mang những đứa trẻ bất hạnh. Ba năm qua, nơi đây thực sự trở thành mái ấm yêu thương của hàng chục cháu bé…  

Chùa Mạc Thượng (Chính Lý, Lý Nhân, Hà Nam) nằm gần hai con sông Hồng và sông Châu Giang. Từ Hà Nội, chúng tôi đi qua thành phố Hưng Yên, qua cầu Yên Lệnh, theo con đường đê hai bên là những đầm sen bát ngát tầm hơn chục kilômét nữa là đến chùa.

Vừa bước vào khoảng sân gạch men màu cánh gián chúng tôi đã nghe tiếng trẻ con ríu rít nô đùa. Thoáng thấy người lạ một bé trai to béo, mập mạp vội chạy ra phía nhà sau hét toáng lên: “Bố ơi… bố ơi có khách”. Rồi 8,9 đứa trẻ ùa ra vây lấy chúng tôi. Chúng xán vào sờ nắn cuốn sổ, cây bút, điện thoại di động, chùm chìa khóa xe… và tranh nhau hỏi đủ thứ.

nhung mai am noi cua thien
Sư thầy Thích Minh Đức và những đứa trẻ bị bỏ rơi ở chùa Trúc Lâm

Chừng 15 phút sau, một sư thầy tuổi trạc tứ tuần, khuôn mặt chữ điền phúc hậu từ phía nhà trong đi ra. “Mời thí chủ vào xơi nước, tôi đang chăm đàn lợn vừa bị đậu mùa” - sư thầy phân trần. Lúc này lũ trẻ lại quay sang quấn lấy thày: “Bố ơi, bố có mệt không? Con bóp tay, bóp chân cho bố nhé…”. Sư thầy cười hiền, khẽ bảo các bé xuống nhà dưới chơi để thầy nói chuyện. Một số bé nghe lời thì xuống ngay, nhưng có một bé trai và một bé gái cứ nấn ná ở gần, rồi đứng ngoài cửa thập thò nhìn vào.

- Chùa mình đang nuôi 8 đứa trẻ hả thầy?

Vừa nghe câu hỏi của chúng tôi, sư thầy Thích Đàm Quyết đã rơm rớm nước mắt:

- Nhẽ ra là 9 cháu cơ đấy cô, chú ạ. Nhưng tháng trước một bé trai đã về với Phật…

Khẽ nâng vạt áo lên lau nước mắt, sư thầy kể. Từ năm 2009 đến nay chùa đã cưu mang 5 bé trai và 4 bé gái, tất cả đều bị cha mẹ bỏ rơi khi vừa mới lọt lòng. Cháu đầu tiên là một bé gái nặng chừng 2kg, bị bỏ lại cửa chùa vào ngày 7-4-2009. “Khoảng 8 giờ tối, thầy đi công việc về thì bất ngờ thấy một cái giỏ đặt trước cổng. Thầy nhấc lên thấy nằng nặng, giở ra thì phát hiện một bé gái chỉ tầm 1-2 ngày tuổi, rốn còn chưa rụng. Người bé ướt sũng, da tím tái vì bị dầm mưa. Cháu thở rất yếu…”.

Sư thầy vội thay quần áo và ủ ấm cho bé, rồi nhờ một phật tử gọi giúp cô y tá trên trạm y tế xã đến xem sức khỏe của cháu. Cháu bé được xác định là bị viêm phổi cấp, nên phải đưa ngay đến bệnh viện huyện Lý Nhân chữa trị. Sau hơn 3 ngày điều trị, sức khỏe của bé dần hồi phục và được trở lại chùa. Sư thầy đã báo lên chính quyền xã, thông báo liên tục một tháng trên loa phát thanh nhưng không có ai đến nhận, sư thầy đành nhận nuôi, đặt tên là Phạm Ngô Thị Quyết Trí (với ý nghĩa sẽ quyết tâm nuôi cháu nên người).

Một tuần sau, lúc đó là khoảng 12 giờ trưa sư thầy vừa ăn cơm xong và đang ru bé Trí ngủ thì thấy có người gọi cửa chùa. Một cặp nam nữ, tuổi trung niên bế một đứa trẻ đến xin làm lễ tại chùa. Họ gửi đứa bé cho thầy Quyết và nói rằng: “Cho con gửi cháu một lát để con đi mua đồ lễ” rồi lên xe ôtô đi. Thầy Quyết tưởng thật nên vui vẻ nhận lời.

Nhưng đến 15 giờ, rồi 17 giờ vẫn không thấy đôi nam nữ kia quay lại. Sư thầy nói với bà vãi: “Không hiểu sao cặp nam nữ lúc trưa đi đâu mãi không quay lại?”. Bà vãi lúc bấy giờ mới phát hiện ra một chiếc túi nilon nơi cặp nam nữ để lại, trong có mấy bộ quần áo trẻ sơ sinh và một tờ giấy ghi vỏn vẹn dòng chữ: “Vì điều kiện hoàn cảnh không nuôi được cháu, con phải đem cháu tới nương nhờ cửa Phật, mong thầy và dân làng cưu mang cho cháu được làm người”. Bé trai Phạm Quyết Trung đến với sư thầy trong hoàn cảnh đó.

Vốn sư thầy Thích Đàm Quyết sớm có duyên với nhà Phật và quy y cách đây đã mấy chục năm. Thầy đã quyết tâm rũ bỏ bụi trần, chỉ ngày đêm chuyên tâm với Phật pháp. Thế nên trước khi quyết định cưu mang các cháu bé, thầy cũng ít nhiều ngần ngại. “Không phải vì tôi ngại khó, ngại khổ, mà vì tuổi cũng không còn trẻ, lại không có kiến thức, kinh nghiệm chăm trẻ sơ sinh nên lúc đầu rất băn khoăn khi phải nuôi các cháu. Chỉ mong bố mẹ các cháu hồi tâm chuyển ý quay lại nhận cháu về nuôi để nhà chùa được chuyên tâm với phật” - thầy Quyết tâm sự.

Thế nhưng 1 năm, 2 năm, 3 năm… rồi đến 7 năm trôi qua mà tịnh không thấy bóng dáng người cha, người mẹ của bất cứ cháu nào lai vãng đến chùa. Không những vậy, liên tiếp trong năm 2011, 2012 mỗi năm đều có 2 đứa trẻ sơ sinh bị các bậc sinh thành “gửi” lại ở cửa chùa. Năm 2013 là năm “kỷ lục” khi có tới 3 đứa trẻ còn đỏ hỏn bị bỏ rơi ngay trước cửa chùa và sư thầy lại đem về cưu mang.

Trong số 9 đứa trẻ bị bỏ rơi ở cửa chùa, thầy Quyết đặc biệt nhớ trường hợp cháu Phạm Nhân Sinh, được phát hiện vào tháng 6-2011.

nhung mai am noi cua thien

Đó là một buổi sáng tinh mơ, sư thầy đang quét sân chùa thì thấy tiếng chó sủa ngoài cổng. Ngỡ có người đến thăm chùa sớm, thầy Quyết dừng tay rồi đi lại phía cổng. Ra đến nơi, thầy thót tim khi phát hiện một chiếc thùng xốp đựng một sinh linh đang thoi thóp thở. Bên ngoài, con chó đã cạp gần hết một nửa chiếc thùng. Thầy Quyết bế cháu lên, cảm giác nhẹ bẫng. Sư thầy vội đưa cháu đi bệnh viện cấp cứu.

Hóa ra cháu bị sinh non, cân nặng chỉ được 1,4kg. Nhân Sinh được đưa vào lồng ấp, điều trị hơn một tháng trời tại Bệnh viện Nhi Trung ương thì cháu mới lại người và được đưa về chùa chăm sóc.

Cháu Phạm Minh Đức thì được cha mẹ “gửi” trong một chiếc làn đi chợ. Nuôi được vài tháng, thầy Quyết phát hiện ra điểm không bình thường. Dù khuôn mặt khôi ngô lanh lợi song Đức ăn uống rất kém, và đặc biệt là tứ chi gần như không phát triển. Đưa cháu đi khám, các bác sĩ kết luận cháu bị bại não và dự đoán cháu không sống được bao lâu nữa.

Từ nhỏ cho đến khi 3 tuổi, Đức chỉ nằm một chỗ không ngồi dậy hay đi lại được. Thương bé, chẳng quản gian lao thầy Quyết đưa cháu đi thăm khám ở khắp các bệnh viện lớn nhỏ. Song bệnh viện nào cũng kết luận bệnh tình của cháu hiểm nghèo. Đầu năm 2015, nghe người ta mách Bệnh viện Vinmec có nhiều bác sĩ giỏi, sư thầy tiếp tục lặn lội đưa Đức đến thăm khám - dù biết rằng viện phí ở đây rất đắt đỏ. Giống như các đồng nghiệp, bác sĩ ở đây cũng kết luận cháu mắc căn bệnh cực kỳ khó chữa và khuyên sư thầy nên đưa cháu về. Cháu cứ yếu dần và đến tháng 5 vừa qua thì cháu về với Phật.

“Nhiều lúc thầy cũng thấy khổ tâm vì các con nay ốm, mai đau, nguồn kinh phí lại eo hẹp nên không thể lo cho các con những loại thuốc tốt nhất. Song nhớ lời Phật dạy, cứu được một mạng người bằng xây bảy tòa tháp nên thầy vẫn gắng gượng từng ngày. Rồi thì thầy và các con cũng vượt qua được những thời điểm nguy nan nhất…” - sư thầy tâm sự.

Chùa làng vốn nghèo, nên thầy Quyết phải nghĩ đủ mọi cách để kiếm thêm tiền. Thầy trồng rau, rồi chăn nuôi thêm. Do có Phật tử giúp đỡ, năm ngoái thầy dựng được một dãy chuồng, nuôi được khá nhiều lợn. Hằng ngày, chỉ riêng việc cho ăn, quét dọn chuồng cũng khiến thầy bở hơi tai. Cũng may là các cháu Trí, Trung tuy mới học lớp 1 song đã biết giúp thầy những việc nhỏ như quét nhà, quét sân, nhặt rau…

Trong lúc chúng tôi trò chuyện với thầy, các bé Trung, Minh Tâm, Phương Anh cứ thập thò ngoài cửa, vẻ rất quấn sư thầy. Tôi vẫy các cháu vào. Dường như chỉ chờ có thế Phương Anh lập tức leo lên lòng thầy ngồi. Còn Minh Tâm thì chạy lại bóp tay, đấm lưng cho thầy. Thầy kể, trong số các anh chị em thì có bé Minh Tâm là thông minh lanh lợi nhất. Tuy chưa tròn 5 tuổi nhưng cứ thấy thầy đi đâu về là cháu chạy lại hỏi han. Buổi tối lúc chuẩn bị đi ngủ Tâm lại hỏi thầy có mệt không, rồi xoa bóp tay chân cho thầy. “Chỉ cần được như vậy, thì thầy có mệt mỏi mấy cũng cảm thấy rất hoan hỉ” - thầy Quyết tâm sự.

Còn tại chùa Trúc Lâm (Gia Lộc, Hải Dương), nhiều năm nay sư trụ trì là Đại Đức Thích Minh Đức cũng đã cưu mang đến 7 đứa trẻ.

Sư thầy vốn là người Huế, mới về trụ trì chùa Trúc Lâm từ năm 2013. Trúc Lâm vốn có tên là chùa Trắm, được xây dựng vào thời nhà Lý, với kiến trúc cổ có 5 gian, 2 trái bồ câu và 3 gian hậu cung. Tuy nhiên, trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, chiến tranh nên chùa đã xuống cấp, hư hại. Sau khi về trụ trì, Đại Đức Thích Minh Đức dần dần phát tâm kêu gọi công đức để xây dựng lại chùa Trúc Lâm. Đến nay, chùa chính đã xây xong, hiện đang tiếp tục thi công một số hạng mục khác.

Ngay từ hồi tu các chùa trong Huế, các thầy trụ trì ở trong đó cũng nhận nuôi, chăm sóc trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi không nơi nương tựa, hồi đó thầy cũng đã cùng nhà chùa chăm sóc các cháu bé bị bỏ rơi rồi. Nhớ lại lần “gặp gỡ” cháu bé đầu tiên, sư thầy ngậm ngùi kể. Trưa một ngày cuối năm 2014, thầy đang cùng các phật tử chuẩn bị làm lễ, thì có phật tử phát hiện thấy một bọc được đặt tại cổng chùa. Trong bọc lại phát ra tiếng khóc của trẻ sơ sinh. Họ bế cháu bé vào. Sư thầy cùng mọi người nhìn cháu bé đầy xót xa, thương cảm: “Không biết con cái nhà ai lại bị bỏ rơi vào đúng những ngày tết thế này. Tội nghiệp quá. A Di Đà Phật!”. Kiểm tra trong bọc, sư thầy Minh Đức phát hiện bên trong bọc có một ít quần áo và một mảnh giấy chỉ ghi vỏn vẹn đôi câu: “Gia đình khó khăn, nhờ nhà chùa nuôi giúp. Sau này có điều kiện sẽ về xin lại cháu”. Từ hôm đó, cháu bé đó được nhà chùa cùng các phật tử nuôi nấng đến giờ”.

Rồi các tháng sau đó, nhà chùa liên tiếp nghe thấy tiếng khóc của trẻ mỏ ngoài cổng chùa, hoặc bên ngoài tường bờ rào chùa. Cứ mỗi lần nghe tiếng khóc, sư thầy Minh Đức cùng các Phật tử ra xem, y như rằng lại phát hiện ra một bọc trong đó có một cháu bé sơ sinh. Trong bọc của cháu nào cũng có mảnh giấy ghi thông tin về ngày sinh, tháng đẻ của các cháu và dòng chữ “Gia đình khó khăn nhờ nhà chùa nuôi giúp”. Cứ thế trong khoảng gần một năm nhà chùa đã “nhặt” được 6 trẻ sơ sinh ngoài cổng chùa cưu mang nuôi nấng.

Đứng trước sinh linh bé bỏng, đáng thương này, sư thầy Thích Minh Đức chỉ nghĩ, người ta vì hoàn cảnh khốn khó hoặc có uẩn khúc gì đó mới phải đứt ruột, đau lòng bỏ lại “hòn máu” nương nhờ cửa Phật. Là người tu hành chẳng lẽ lại ngoảnh mặt làm ngơ? Trong khi đó cứu giúp người hoạn nạn, khó khăn lại nằm trong những điều Phật răn dạy: “Cứu nhân độ thế”, rồi “cứu được một người phúc đẳng hà sa”... Nghĩ vậy, sư thầy không bỏ bất kỳ ai, sư thầy cùng phật tử âm thầm, lặng lẽ cưu mang những đứa trẻ sơ sinh bất hạnh bị cha mẹ bỏ rơi này.

Những đứa trẻ bất hạnh được sư thầy Thích Minh Đức đặt cho một tên khai sinh, một tên pháp danh quy ở cửa Phật: Trí Siêu (là tên khai sinh), (Hải Đức là pháp danh); Trí Nghiêm (Tâm Đức); Trí Thủ (Hoằng Đức); Trí Quang (Nguyên Đức); Trí Độ (Kiến Đức); Trí Đức (Trí Đức).

nhung mai am noi cua thien
Các cháu bé ở chùa Mạc Thượng thời điểm mới được cưu mang ở chùa

Trong số 7 đứa trẻ thì cháu Trí Đức là bé vào sau cùng và nuôi nấng vất vả nhất. Trí Đức bị hẹp động mạch vành, cháu rất mẫn cảm với thời tiết và không khí. Khi thời tiết thay đổi hoặc gặp không khí ô nhiễm là cháu ốm ngay. Nhiều khi tưởng không nuôi nổi. Còn Hoằng Đức bị viêm tai giữa. Kiến Đức bị rối loạn tiêu hóa. Tâm Đức bị bệnh còi xương. Thời gian đầu, các cháu thường xuyên làm bạn với bệnh viện. Không chỉ 1 cháu ốm, thậm chí nhiều lần còn 2 cháu nằm viện cùng một lúc. Thầy cùng các bác Phật tử thay nhau chăm các cháu”.

Một nữ Phật tử (tên Phương) kể với chúng tôi: “Ngay từ khi vào chùa, thể chất Trí Đức rất yếu, người cháu có biểu hiện sốt cao. Chúng tôi đưa cháu vào Bệnh viên Đa khoa huyện Gia Lộc, nằm ở đó điều trị vài ngày không thấy khỏi, sức đề kháng của cháu rất yếu. Các bác sĩ khuyên nên đưa cháu lên Hà Nội thăm khám để tìm ra bệnh. Vào hết viện này đến viên khác, cuối cùng nghe con gái tôi bảo đưa cháu đến Bệnh viện Nhi Trung ương để khám và điều trị. Có những lúc chúng tôi đã nghĩ đến tình huống xấu nhất, nhưng rất may là cháu đã qua khỏi”.

Chị Phương vốn đang kinh doanh trên Hà Nội. Cơ duyên khiến chị gắn bó với các cháu nhỏ, vì đây là quê chồng chị. Chồng chị đã mất và được an táng tại quê nhà. Trong một lần về lo việc của chồng, chị vào chùa Trúc Lâm thắp hương làm lễ, nhìn thấy các cháu còi cọc, ốm đau chị rất thương cảm. Như có một sợi dây tình cảm vấn vít chị, từ sau lần đó, chị thường xuyên về quê chồng và đến chăm sóc các cháu. Sau thấy việc đi lại vất vả nên chị đóng cửa hàng về ở đây luôn để tiện nuôi nấng. Các con chị cũng không phản đối gì, thậm chí con gái chị còn nhận các cháu làm con nuôi. Chị chăm sóc các cháu bằng tình yêu thương của một người bà dành cho các cháu nên càng tận tình, yêu thương hơn. Những lúc có việc phải về Hà Nội, đám trẻ lưu luyến chị lắm và chị cũng nhớ chúng nhiều. Chỉ mong mau xong việc để về với các cháu.

Hằng ngày, chị cùng một phật tử khác phụ việc chùa bê mâm cơm cho các cháu ăn. Mỗi cháu một bát cơm, chị và bác phụ việc, mỗi người chia nhau đút cơm cho các cháu. Đám trẻ nhẩn nha vừa nhai vừa chơi, trèo từ ghế này sang ghế khác, khiến các chị phải luôn miệng vừa gọi, vừa hò hét, vừa nựng, vừa dọa cũng chẳng ăn thua. Có cháu còn bị trớ cơm ra hết quần áo, rơi xuống ghế, xuống nền nhà. Bác phụ việc chùa lại đi lấy khăn lau chùi bàn ghế, nền nhà, còn chị bế cháu bé đi thay quần áo... vất vả vô cùng nhưng mà vui.

Trước khi chia tay, sư thầy Thích Minh Đức nói những lời tâm huyết: “Nếu bố mẹ các cháu không về nhận lại, nhà chùa sẽ nuôi các cháu đến khi trưởng thành. Các cháu sẽ được ăn học bằng hoặc hơn những cháu bé khác. Thấp nhất, các cháu phải học đến thạc sĩ. Nhà chùa sẽ cố gắng thực hiện điều đó”.

Chứng kiến sự chăm sóc tận tình, chu đáo của sư thầy Thích Minh Đức, của chị Phương, của bác phụ việc dành cho các cháu, tôi thực sự vui và mừng cho các cháu được sống trong một mái ấm đầy tình người và ăm ắp yêu thương.

Yên Chi