Lãi lớn mùa dịch nhờ sản xuất khẩu trang, đồ bảo hộ

07:24 | 26/10/2021

145 lượt xem
Theo dõi PetroTimes trên
|
Các doanh nghiệp sản xuất thiết bị y tế, trang phục bảo hộ ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng mạnh trong quý III khi nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng phòng dịch lên cao.

Trong khi nhiều lĩnh vực suy giảm hiệu quả kinh doanh trong quý III gắn với giai đoạn giãn cách xã hội nghiêm ngặt ở TPHCM và các tỉnh phía Nam, doanh nghiệp kinh doanh thiết bị y tế phòng dịch lại tăng trưởng lợi nhuận lớn. Đây là một trong những nhóm ngành hiếm hoi hưởng lợi trong giai đoạn dịch bệnh bùng phát.

Tại Công ty Cổ phần Y tế Danameco (mã chứng khoán: DNM), dù doanh thu quý III thấp hơn 14% cùng kỳ năm trước, chỉ đạt 177 tỷ đồng nhưng lợi nhuận sau thuế lại tăng 60% lên 8 tỷ đồng. Bí quyết của doanh nghiệp này nằm ở việc cải thiện biên lợi nhuận gộp, đồng thời tiết giảm chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp.

Đặt trụ sở tại TP Đà Nẵng, tâm điểm của đợt dịch Covid-19 lần 2, Danameco phải gánh chi phí đầu vào tăng mạnh trong quý III/2020 nên ghi nhận lợi nhuận thấp dù doanh thu cao. Đến quý III năm nay, khi dịch bệnh bùng phát, doanh nghiệp này đã chuẩn bị dự trữ nguồn cung ứng nguyên vật liệu cho 6 tháng cuối năm nên chi phí không tăng mạnh như cùng kỳ, giúp biên lợi nhuận được cải thiện rõ rệt.

Lợi nhuận quý III hoàn toàn tương phản với bức tranh 6 tháng đầu năm của Danameco. Nửa đầu năm, công ty chỉ lãi ròng vỏn vẹn 4 tỷ đồng, thấp hơn 84% so với cùng kỳ 2020 và chỉ tương đương một nửa con số của quý III. Lãnh đạo doanh nghiệp lý giải do trong hai quý đầu tiên, dịch Covid-19 được kiểm soát tốt nên doanh số khẩu trang, trang phục chống dịch tiêu thụ ở thị trường trong nước trở về mức bình ổn.

Lãi lớn mùa dịch nhờ sản xuất khẩu trang, đồ bảo hộ - 1
Biểu đồ: Việt Đức.

Lý do này khiến dù lãi ròng quý III tăng mạnh, tổng lợi nhuận 9 tháng của Danameco chỉ đạt 12 tỷ đồng, tương đương chưa đến 40% so với cùng kỳ 2020. Doanh thu lũy kế từ đầu năm của công ty cũng giảm 44% còn 321 tỷ đồng.

Năm nay, Danameco đặt chỉ tiêu doanh thu 370 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 22 tỷ đồng. Như vậy, công ty đã hoàn thành gần 90% kế hoạch doanh thu nhưng còn cách mục tiêu lợi nhuận gần 50% quãng đường.

Tương tự Danameco, Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Y tế Domesco (mã chứng khoán: DMC) cũng chứng kiến lợi nhuận 6 tháng đầu năm giảm mạnh tới 35% so với cùng kỳ 2020 nhưng bật tăng trở lại trong quý III.

Ban điều hành doanh nghiệp đặt trụ sở tại tỉnh Đồng Tháp cho biết việc kết quả kinh doanh tăng mạnh trong quý vừa qua đến từ việc công ty nhanh chóng kịp thời đưa ra thị trường nhiều sản phẩm phòng chống dịch, hỗ trợ điều trị Covid-19, đồng thời tận dụng lợi thế của việc sở hữu hệ thống phân phối trực tiếp trên khắp cả nước trong giai đoạn nhiều địa phương thực hiện giãn cách xã hội.

Cụ thể, doanh số quý III của Domesco đạt 388 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ 2020. Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế tăng trưởng đến 44%, đạt 39 tỷ đồng. Mấu chốt giúp công ty tăng biên lợi nhuận nhờ vào việc siết chặt chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp.

Lãi lớn mùa dịch nhờ sản xuất khẩu trang, đồ bảo hộ - 2
Biểu đồ: Việt Đức.

Tuy nhiên, do kết quả kém khả quan 6 tháng đầu năm, lợi nhuận ròng của Domesco sau 9 tháng giảm hơn 20% còn 105 tỷ đồng dù lợi nhuận nhích tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước, vẫn vượt 1.000 tỷ đồng.

Domesco năm nay đặt mục tiêu doanh thu 1.540 tỷ đồng, lợi nhuận ròng 215 tỷ đồng. Như vậy, dù tăng tốc trong quý III, công ty vẫn chưa chạm được mốc 50% kế hoạch lợi nhuận dù 3/4 thời gian đã đi qua. Song song đó, doanh số của Domesco đến hết tháng 9 mới đạt khoảng 80%.

Theo Dân trí

Cú Cú "đánh úp" đột ngột, tỷ phú Trần Đình Long hụt mất bộn tiền
Tiềm năng điện gió ở Việt Nam là rất lớnTiềm năng điện gió ở Việt Nam là rất lớn
Thủ tướng: Đầu tư hơn nữa nguồn lực cho công tác xây dựng, hoàn thiện thể chếThủ tướng: Đầu tư hơn nữa nguồn lực cho công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế
Chủ trương đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp số 03 tại Hưng YênChủ trương đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp số 03 tại Hưng Yên
PGS-TS Vũ Sỹ Cường: PGS-TS Vũ Sỹ Cường: "Chúng ta còn rất nhiều tiền nhưng không tiêu được"

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 82,600 84,800
AVPL/SJC HCM 82,600 84,800
AVPL/SJC ĐN 82,600 84,800
Nguyên liệu 9999 - HN 74,250 75,250
Nguyên liệu 999 - HN 74,150 75,150
AVPL/SJC Cần Thơ 82,600 84,800
Cập nhật: 28/04/2024 21:45
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 73.800 75.600
TPHCM - SJC 83.000 85.200
Hà Nội - PNJ 73.800 75.600
Hà Nội - SJC 83.000 85.200
Đà Nẵng - PNJ 73.800 75.600
Đà Nẵng - SJC 83.000 85.200
Miền Tây - PNJ 73.800 75.600
Miền Tây - SJC 83.000 85.200
Giá vàng nữ trang - PNJ 73.800 75.600
Giá vàng nữ trang - SJC 83.000 85.200
Giá vàng nữ trang - Đông Nam Bộ PNJ 73.800
Giá vàng nữ trang - SJC 83.000 85.200
Giá vàng nữ trang - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 73.800
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 73.700 74.500
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 54.630 56.030
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 42.330 43.730
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 29.740 31.140
Cập nhật: 28/04/2024 21:45
AJC Mua vào Bán ra
Trang sức 99.99 7,385 7,590
Trang sức 99.9 7,375 7,580
NL 99.99 7,380
Nhẫn tròn k ép vỉ T.Bình 7,360
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 7,450 7,620
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 7,450 7,620
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 7,450 7,620
Miếng SJC Thái Bình 8,320 8,520
Miếng SJC Nghệ An 8,320 8,520
Miếng SJC Hà Nội 8,320 8,520
Cập nhật: 28/04/2024 21:45
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L, 1KG 83,000 85,200
SJC 5c 83,000 85,220
SJC 2c, 1C, 5 phân 83,000 85,230
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 73,800 75,500
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.3 chỉ, 0.5 chỉ 73,800 75,600
Nữ Trang 99.99% 73,700 74,700
Nữ Trang 99% 71,960 73,960
Nữ Trang 68% 48,451 50,951
Nữ Trang 41.7% 28,803 31,303
Cập nhật: 28/04/2024 21:45

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,121.66 16,284.50 16,820.26
CAD 18,077.48 18,260.08 18,860.83
CHF 27,068.64 27,342.06 28,241.61
CNY 3,423.46 3,458.04 3,572.35
DKK - 3,577.18 3,717.11
EUR 26,475.36 26,742.79 27,949.19
GBP 30,873.52 31,185.37 32,211.36
HKD 3,153.19 3,185.04 3,289.82
INR - 303.14 315.51
JPY 156.74 158.32 166.02
KRW 15.92 17.69 19.31
KWD - 82,091.26 85,440.87
MYR - 5,259.06 5,378.02
NOK - 2,255.10 2,352.71
RUB - 262.74 291.09
SAR - 6,734.96 7,009.77
SEK - 2,276.86 2,375.42
SGD 18,143.91 18,327.18 18,930.14
THB 605.58 672.87 699.19
USD 25,088.00 25,118.00 25,458.00
Cập nhật: 28/04/2024 21:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 16,236 16,256 16,856
CAD 18,226 18,236 18,936
CHF 27,195 27,215 28,165
CNY - 3,427 3,567
DKK - 3,544 3,714
EUR #26,239 26,449 27,739
GBP 31,092 31,102 32,272
HKD 3,107 3,117 3,312
JPY 155.83 155.98 165.53
KRW 16.19 16.39 20.19
LAK - 0.69 1.39
NOK - 2,215 2,335
NZD 14,779 14,789 15,369
SEK - 2,245 2,380
SGD 18,035 18,045 18,845
THB 632.42 672.42 700.42
USD #25,060 25,060 25,458
Cập nhật: 28/04/2024 21:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,150.00 25,158.00 25,458.00
EUR 26,649.00 26,756.00 27,949.00
GBP 31,017.00 31,204.00 32,174.00
HKD 3,173.00 3,186.00 3,290.00
CHF 27,229.00 27,338.00 28,186.00
JPY 158.99 159.63 166.91
AUD 16,234.00 16,299.00 16,798.00
SGD 18,295.00 18,368.00 18,912.00
THB 667.00 670.00 697.00
CAD 18,214.00 18,287.00 18,828.00
NZD 14,866.00 15,367.00
KRW 17.65 19.29
Cập nhật: 28/04/2024 21:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25135 25135 25455
AUD 16392 16442 16947
CAD 18369 18419 18874
CHF 27560 27610 28172
CNY 0 3461.3 0
CZK 0 1020 0
DKK 0 3540 0
EUR 26970 27020 27722
GBP 31472 31522 32177
HKD 0 3140 0
JPY 159.97 160.47 164.98
KHR 0 5.6713 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.0325 0
MYR 0 5445 0
NOK 0 2260 0
NZD 0 14907 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2360 0
SGD 18437 18487 19040
THB 0 645.7 0
TWD 0 779 0
XAU 8270000 8270000 8460000
XBJ 6000000 6000000 6550000
Cập nhật: 28/04/2024 21:45