Nhập siêu hơn 2 tỉ USD không phải là tín hiệu xấu

11:06 | 01/10/2021

|
(PetroTimes) - Tại họp báo thường kỳ Bộ Công Thương quý III/2021, lãnh đạo Bộ Công Thương khẳng định cán cân thương mại hàng hóa 9 tháng nhập siêu 2,13 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 16,66 tỷ USD) không phải là tín hiệu xấu đối với nền kinh tế.

Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam đang có những thuận lợi khi ta đang khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA) và nhu cầu thị trường đang tăng vào dịp mua sắm cuối năm, đặc biệt là nhóm hàng có lợi thế như dệt may, da giày, nông lâm thủy sản... Tuy nhiên, dịch bệnh vẫn còn diễn biến ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam khiến cho hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp gặp không ít khó khăn, giao thông vận tải, logistics chưa bình thường trở lại.

Nhập siêu hơn 2 tỉ USD không phải là tín hiệu xấu
Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Thanh Hải giải đáp về tình hình xuất nhập khẩu 9 tháng năm 2021.

Các doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện phải đảm bảo phòng chống dịch với những yêu cầu nghiêm ngặt, đáp ứng được các điều kiện sản xuất "3 tại chỗ" hoặc "một cung đường, hai điểm đến”. Nguy cơ thiếu lao động sản xuất sau khi dịch được kiểm soát, đặc biệt là lao động trong lĩnh vực cần có tay nghề như cơ khí, điện tử…

Quá trình thông quan xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Quốc - thị trường chủ lực của nước ta, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản thời gian gần đây gặp khá nhiều bất lợi khi Trung Quốc liên tục tăng cường các biện pháp kiểm soát dịch bệnh tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc.

Đáng lưu ý về tình hình xuất nhập khẩu trong 9 tháng qua là việc khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 20,9 tỷ USD trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 18,87 tỷ USD.

Lý giải nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nhập siêu trong 9 tháng năm 2021, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Thanh Hải cho biết: "Thời gian qua, kinh tế thế giới đang phục hồi mạnh nên nhu cầu tăng, các doanh nghiệp của ta đã tăng lượng nhập khẩu nguyên vật liệu để phục vụ cho sản xuất. Đồng thời, giá cả hàng hóa thế giới tăng nên giá nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất tăng cao, góp phần tăng kim ngạch nhập khẩu nước ta;

Giá cước vận tải biển tăng cũng làm tăng chi phí, tăng trị giá nhập khẩu trong khi đó, tình hình xuất khẩu của các doanh nghiệp lại giảm tốc từ tháng 6 đến nay bởi nhiều tỉnh thành phải thực hiện Chỉ thị 16. Trong đó, tháng 6 do dịch Covid-19 tác động mạnh đến xuất khẩu của các doanh nghiệp ở Bắc Giang, Bắc Ninh; còn trong các tháng 7, 8, 9 dịch Covid-19 tác động mạnh đến xuất khẩu của các doanh nghiệp tại các tỉnh, thành phố khu vực phía nam".

Như vậy là đã rõ, việc cán cân thương mại âm không chỉ không phải là tín hiệu xấu đối với nền kinh tế mà cần coi đó là một tín hiệu đáng mừng, thể hiện tính linh hoạt của doanh nghiệp Việt Nam trong việc nhạy bén đón đầu nhu cầu của thế giới, chuẩn bị sẵn sàng nguyên vật liệu cho sản xuất, đáp ứng các đơn hàng cho nhiều thị trường lớn.

Nhập siêu hơn 2 tỉ USD không phải là tín hiệu xấu
Xuất nhập khẩu sẽ khởi sắc vào 3 tháng cuối năm 2021.

Thông tin từ Bộ Công Thương cho biết, để ngăn chặn đà suy giảm xuất khẩu do ảnh hưởng của đại dịch, từ nay đến cuối năm Bộ Công Thương đã và đang tập trung các giải pháp củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu, tận dụng tối đa lợi thế từ các FTA đã có hiệu lực; hướng dẫn doanh nghiệp chú trọng vào các thị trường nhỏ và thị trường ngách.

Để tăng cường quản lý xuất khẩu, nhập khẩu một số mặt hàng chiến lược, Bộ Công Thương đã làm việc với Đại sứ quán Trung Quốc đề nghị tạo thuận lợi cho hoạt động thông quan, xuất khẩu hàng hóa qua cửa khẩu biên giới phía bắc. Đồng thời, tiếp tục đổi mới, tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu cả trong và ngoài nước trên môi trường trực tuyến và dựa trên những nền tảng mới, tập trung vào những hàng hóa, nông sản đang vào mùa vụ.

Tùng Dương

Tin tức kinh tế ngày 21/9: Người tiêm đủ 2 mũi vắc xin được sản xuất, tiêu thụ hàng hóa Tin tức kinh tế ngày 21/9: Người tiêm đủ 2 mũi vắc xin được sản xuất, tiêu thụ hàng hóa
Covid-19 làm trầm trọng hơn thâm hụt thương mại Việt Nam với Trung Quốc Covid-19 làm trầm trọng hơn thâm hụt thương mại Việt Nam với Trung Quốc
Xuất nhập khẩu sẽ khởi sắc Xuất nhập khẩu sẽ khởi sắc
Việt Nam nhập siêu cực lớn từ Trung Quốc Việt Nam nhập siêu cực lớn từ Trung Quốc

  • sao-thai-duong
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL / DOJI HN lẻ 61,050 ▲50K 61,650 ▲50K
AVPL / DOJI HN buôn 61,050 ▲50K 61,650 ▲50K
AVPL / DOJI HCM lẻ 61,100 ▲200K 61,600 ▼100K
AVPL / DOJI HCM buôn 61,100 ▲200K 61,600 ▼100K
AVPL / DOJI ĐN lẻ 61,100 ▲100K 61,650
AVPL / DOJI ĐN buôn 61,100 ▲100K 61,650
Nguyên liêu 9999 - HN 52,380 ▲10K 52,580 ▲10K
Nguyên liêu 999 - HN 52,330 ▲10K 52,530 ▲10K
AVPL / DOJI CT lẻ 61,050 ▲50K 61,650 ▲50K
AVPL / DOJI CT buôn 61,050 ▲50K 61,650 ▲50K
Cập nhật: 18/01/2022 14:15
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - Bóng đổi 9999 0 0
TPHCM - PNJ 52.550 53.250
TPHCM - SJC 60.900 61.650 ▲50K
Hà Nội - PNJ 52.550 53.250
Hà Nội - SJC 61.250 ▼30K 61.650
Đà Nẵng - PNJ 52.550 53.250
Đà Nẵng - SJC 60.900 61.650 ▲50K
Cần Thơ - PNJ 52.550 53.250
Cần Thơ - SJC 61.050 ▼50K 61.650 ▼50K
Giá vàng nữ trang - Nhẫn PNJ (24K) 52.550 53.150
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 51.950 52.750
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 38.310 39.710
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 29.610 31.010
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.690 22.090
Cập nhật: 18/01/2022 14:15
AJC Mua vào Bán ra
Đồng vàng 99.99 5,250 5,320
Vàng trang sức 9999 5,170 5,300
Vàng trang sức 999 5,160 5,290
Vàng NT, TT Hà Nội, 3A 5,250 5,320
Vàng NL 9999 5,220 5,305
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,120 ▲10K 6,170
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,105 ▲5K 6,165
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,120 6,165 ▼5K
Vàng NT, TT Thái Bình 5,240 5,340
Vàng NT, TT Nghệ An 5,235 5,335
Cập nhật: 18/01/2022 14:15
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 61,050 ▼50K 61,650 ▼50K
SJC 5c 61,050 ▼50K 61,670 ▼50K
SJC 2c, 1C, 5 phân 61,050 ▼50K 61,680 ▼50K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 52,550 ▼50K 53,200 ▼50K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 52,550 ▼50K 53,300 ▼50K
Nữ Trang 99.99% 52,200 ▼50K 52,900 ▼50K
Nữ Trang 99% 51,276 ▼50K 52,376 ▼50K
Nữ Trang 68% 34,126 ▼34K 36,126 ▼34K
Nữ Trang 41.7% 20,212 ▼20K 22,212 ▼20K
Cập nhật: 18/01/2022 14:15

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,019.93 16,181.75 16,703.90
CAD 17,773.75 17,953.28 18,532.59
CHF 24,296.17 24,541.58 25,333.49
CNY 3,519.04 3,554.59 3,669.84
DKK - 3,430.39 3,562.40
EUR 25,337.14 25,593.07 26,757.28
GBP 30,302.03 30,608.11 31,595.77
HKD 2,848.78 2,877.56 2,970.41
INR - 305.91 318.20
JPY 192.53 194.47 203.81
KRW 16.59 18.44 20.22
KWD - 75,288.60 78,312.70
MYR - 5,388.49 5,507.01
NOK - 2,565.47 2,674.88
RUB - 299.59 334.13
SAR - 6,053.99 6,297.16
SEK - 2,476.85 2,582.48
SGD 16,485.53 16,652.05 17,189.37
THB 610.49 678.32 704.43
USD 22,610.00 22,640.00 22,920.00
Cập nhật: 18/01/2022 14:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 16,135 16,235 16,785
CAD 17,949 18,049 18,599
CHF 24,418 24,523 25,323
CNY - 3,549 3,659
DKK - 3,437 3,567
EUR #25,547 25,572 26,592
GBP 30,664 30,714 31,674
HKD 2,847 2,862 2,997
JPY 192.73 192.73 202.33
KRW 17.34 18.14 20.94
LAK - 1.31 2.26
NOK - 2,565 2,645
NZD 15,221 15,304 15,591
SEK - 2,470 2,580
SGD 16,443 16,543 17,143
THB 636.37 680.71 704.37
USD #22,610 22,630 22,910
Cập nhật: 18/01/2022 14:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 15,854 16,120 16,742
CAD 17,655 17,929 18,554
CHF 24,250 24,600 25,238
CNY 3,390 3,720
EUR 25,323 25,628 26,658
GBP 30,240 30,615 31,557
HKD 2,787 2,991
JPY 191.15 194.45 203.67
KRW 23
MYR 5,330 5,680
SGD 16,350 16,618 17,246
THB 604 667 719
USD (1,2) 22,512
USD (5,10,20) 22,564
USD (50,100) 22,610 22,605 22,900
Cập nhật: 18/01/2022 14:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 22,600 22,600 22,880
USD(1-2-5) 22,404 - -
USD(10-20) 22,555 - -
GBP 30,278 30,460 31,664
HKD 2,857 2,877 2,959
CHF 24,276 24,423 25,273
JPY 193.06 194.22 203.42
THB 650.15 656.72 717.18
AUD 15,993 16,090 16,634
CAD 17,753 17,860 18,498
SGD 16,493 16,592 17,140
SEK - 2,477 2,559
LAK - 1.7 2.09
DKK - 3,428 3,540
NOK - 2,560 2,645
CNY - 3,527 3,644
RUB - 270 346
NZD 15,145 15,236 15,598
KRW 17.1 - 20.89
EUR 25,433 25,502 26,622
TWD 745.08 - 846.98
MYR 5,085.93 - 5,582.72
Cập nhật: 18/01/2022 14:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 22,580.00 22,590.00 22,850.00
EUR 25,529.00 25,562.00 26,317.00
GBP 30,507.00 30,691.00 31,359.00
HKD 2,858.00 2,869.00 2,961.00
CHF 24,409.00 24,507.00 25,208.00
JPY 194.74 196.02 200.72
AUD 16,028.00 16,092.00 16,681.00
SGD 16,580.00 16,647.00 17,056.00
THB 662.00 665.00 711.00
CAD 17,858.00 17,930.00 18,385.00
NZD 0.00 15,180.00 15,691.00
KRW 0.00 18.26 20.07
Cập nhật: 18/01/2022 14:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 22.600 22.620 22.892
AUD 16.067 16.167 16.777
CAD 17.977 18.077 18.488
CHF 24.650 24.750 25.166
EUR 25.525 25.625 26.395
GBP 30.672 30.722 31.392
JPY 195,59 196,59 202
SGD 16.666 16.766 17.088
Cập nhật: 18/01/2022 14:15
  • nhien-lieu-bay-cong-nghe-nang-luong-2021
  • pvgas