Doanh nghiệp Việt trước cơ hội từ dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu

14:17 | 18/09/2026

17 lượt xem
|
(PetroTimes) - Sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng toàn cầu đang mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam, nhưng từ năng lực sản xuất đến một đơn hàng quốc tế vẫn là khoảng cách không nhỏ.

Có nhà máy nhưng thiếu “đội ngũ bán hàng”

Theo ông Nguyễn Tuấn Việt, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO, Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội khi chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục dịch chuyển và các nhà mua hàng quốc tế ngày càng đa dạng hóa nguồn cung.

Việt Nam có lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống cảng biển và khả năng kết nối với các tuyến hàng hải quốc tế, qua đó góp phần rút ngắn thời gian giao hàng, giảm chi phí logistics. Cùng với đó, mạng lưới các hiệp định thương mại tự do như CPTPP, EVFTA, UKVFTA và RCEP mở thêm dư địa để doanh nghiệp tiếp cận các thị trường lớn.

Tuy nhiên, theo ông Việt, cơ hội chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển hóa thành những đơn hàng xuất khẩu cụ thể.

Doanh nghiệp Việt trước cơ hội từ dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu
Ông Nguyễn Tuấn Việt, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO chia sẻ tại diễn đàn.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp Việt đã đầu tư nhà máy, máy móc, vùng nguyên liệu nhưng vẫn thiếu đội ngũ có khả năng tìm kiếm buyer, đàm phán, tổ chức nguồn hàng và đưa sản phẩm ra thị trường toàn cầu. Nói cách khác, năng lực sản xuất chưa đồng nghĩa với năng lực bán hàng quốc tế.

Từ thực tiễn xúc tiến xuất khẩu, ông Việt cho rằng cần chú trọng phát triển các doanh nghiệp thương mại xuất khẩu, có thể xem như “đội ngũ bán hàng của nền kinh tế”. Lực lượng này đóng vai trò kết nối nhà sản xuất với buyer quốc tế, tổ chức nguồn hàng, mở rộng thị trường và đưa sản phẩm Việt Nam tiếp cận trực tiếp hơn với khách hàng toàn cầu.

Cùng với đó, doanh nghiệp cần khai thác hiệu quả hơn các FTA, đặc biệt là nắm chắc quy tắc xuất xứ, chủ động lựa chọn nguyên liệu, nguyên phụ liệu phù hợp để tận dụng ưu đãi thuế quan.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay vì dàn trải, ông Việt cho rằng cần lựa chọn những thị trường phù hợp với năng lực hiện tại, từng bước nâng cấp khả năng đáp ứng. Một số nhóm hàng như nông sản, gia vị, hoa quả tươi và chế biến, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng vẫn có dư địa mở rộng nếu doanh nghiệp đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường.

Từ “thu hút đầu tư” sang nâng cấp doanh nghiệp Việt

Tuy nhiên, năng lực thương mại chỉ là một phần của bài toán. Để được các tập đoàn quốc tế lựa chọn làm nhà cung ứng, doanh nghiệp Việt còn phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao về công nghệ, R&D, chất lượng, năng suất và khả năng cung ứng ổn định.

Theo bà Lê Thị Duyên Hải, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn thuế Việt Nam, hệ thống chính sách thuế hiện đã có nhiều ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư, đổi mới công nghệ và xuất khẩu. Trong đó có thuế suất TNDN 10% trong 15 năm đối với một số lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn, AI; cơ chế tính chi phí R&D tối đa 200%; chính sách hoàn thuế GTGT đối với hàng xuất khẩu khoảng 120.000-130.000 tỷ đồng mỗi năm.

Doanh nghiệp Việt trước cơ hội từ dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu
Các đại biểu tham dự diễn đàn.

Dù vậy, bà Hải cho rằng chính sách hiện hành vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Hàng xuất khẩu chủ lực của doanh nghiệp nội địa còn tập trung vào các ngành có giá trị gia tăng thấp như may mặc, thủy sản, nông sản, trong khi điện tử và linh kiện chủ yếu do khu vực FDI đảm nhiệm.

Một vấn đề khác là ưu đãi thuế còn phụ thuộc nhiều vào địa bàn hoặc quy mô vốn, trong khi chưa gắn đủ với các tiêu chí đầu ra như R&D, năng suất hay tỷ lệ nội địa hóa. Điều này có thể khiến doanh nghiệp Việt khó chuyển từ lợi thế lắp ráp sang tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia.

Trước xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, bà Hải đề xuất chuyển trọng tâm chính sách thuế từ “thu hút đầu tư” sang “nâng cấp năng lực doanh nghiệp Việt”, với hệ thống ưu đãi xoay quanh công nghệ, R&D, nhân lực, chuỗi cung ứng và thị trường toàn cầu.

Theo đó, chính sách cần tăng ưu đãi cho hoạt động R&D, cho phép khấu trừ thuế 10-20% và chuyển phần chưa khấu trừ hết sang các năm tiếp theo; đồng thời cho phép khấu hao nhanh máy móc, thiết bị tự động hóa, robot, AI và công nghệ xanh để cải thiện dòng tiền trong giai đoạn đầu tư.

Đối với chuỗi cung ứng, có thể thiết kế ưu đãi thuế TNDN cho doanh nghiệp Việt đáp ứng tiêu chuẩn cung ứng cho các tập đoàn đa quốc gia. Chính sách công nghiệp hỗ trợ cũng cần chuyển từ ưu đãi theo sản phẩm sang dựa trên tiêu chí kỹ thuật, tỷ lệ nội địa hóa và năng lực cung ứng thực tế, nhất là trong các ngành bán dẫn, ô tô, cơ khí.

Bên cạnh đó là các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận đơn hàng dịch chuyển, cải cách hoàn thuế GTGT theo hướng tự động dựa trên mức độ tuân thủ, mở rộng miễn, giảm thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, máy móc và thiết bị mà trong nước chưa sản xuất được.

Tháo gỡ 4 điểm nghẽn cho doanh nghiệp, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con sốTháo gỡ 4 điểm nghẽn cho doanh nghiệp, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số
Những thách thức lớn nhất với chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầuNhững thách thức lớn nhất với chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu
Doanh nghiệp năng lượng cần làm gì để tránh rủi ro gián đoạn nguồn cung?Doanh nghiệp năng lượng cần làm gì để tránh rủi ro gián đoạn nguồn cung?

Phương Thảo

  • vingroup