Xuân Tết với "Hiền nhân - thi sĩ"

14:00 | 06/02/2019

|
Khắp thiên hạ - Đông, Tây, Nam, Bắc - đâu cũng trải 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Tây lịch hay âm lịch đều cũng vậy.

Âm lịch - lịch Mặt trăng - Nông lịch - tiện cho việc nông tang (làm ruộng, chăn tằm) vì dễ thấy thời tiết và mùa vụ trên đồng.

xuan tet voi hien nhan thi si

Xuân về trên rẻo cao

Theo lịch ấy, ngàn năm nay, cư dân nông nghiệp theo tiết lễ, do đó mà sinh ra lễ tiết: Tiết đọc trại ra thì thành tết (sau này, còn có những nghĩa phái sinh như “Lễ tiết, tác phong quân nhân” chẳng hạn).

Đem trộn những lễ tiết ấy với tục thờ Trời Phật, tục thờ cúng tổ tiên và quan niệm “Trần sao âm vậy” trong sự mù mờ nhưng linh thiêng của “thế giới bên kia”, với ước mơ sinh sôi trù phú khởi từ mùa xuân..., người ta dần tạo ra hệ thống phong tục - tập quán - tín ngưỡng của mình. Lâu ngày, chúng thành ra văn hóa, rất đặc sắc.

Theo cái văn hóa ấy, mùa xuân là quan trọng nhất năm. Nó làm cho vạn vật sinh sôi nảy nở, cỏ xanh hoa thơm, ong bay bướm lượn, động thực vật đều tràn trề sức sống - thực vật thì nảy lộc đâm chồi, “cải lão hoàn đồng” cả cổ thụ; động vật thì “động dục” - “ngủ với nhau” - để duy trì nòi giống (tất cả các loài động vật đều “ngủ với nhau” vào mùa này, duy chỉ có con người là “ngủ với nhau” suốt cả 4 mùa - thật quá đáng!).

Lễ tiết (tết) lớn nhất mùa xuân và nhất năm luôn là Tết Nguyên Đán. “Nguyên” là “Khởi đầu”, “Đán” là “Buổi sớm”. Tết Nguyên Đán khởi đầu mùa xuân, cũng là khởi đầu cho một năm mới. Nó là “Buổi sớm khởi đầu” cho niên lịch Mặt trăng.

xuan tet voi hien nhan thi si
Xuân Tết với

Hay thế, quan trọng thế, kỳ diệu thế, cỏ cây còn thế, thế thì người thế nào?

Nhân gian cảm xuân còn trên cả vạn vật. Trong nhân gian, những “hiền nhân - thi sĩ” cảm xuân nhạy nhất, sâu sắc nhất xưa nay. Ngũ quan của họ nhạy hơn thiên hạ đã đành, họ lại có nhiều tình ý hay và đủ chữ nghĩa để biểu lộ tình ý của mình hơn người.

Này nhé! Khi xuân còn chưa lộ ra chồi búp, còn “giấu mặt”, Nguyễn Trãi đã biết và viết:

Cành có tinh thần, ong chửa thấy

để:

Phiến sách, ngày xuân ngồi chấm câu.

Rồi ông mới viết:

Chim kêu, hoa nở, ngày xuân tĩnh

Lạ thật! “hoa nở” lặng lẽ thì không nói nữa, nhưng đã “chim kêu” thì sao lại còn “xuân tĩnh” được? Hóa ra, “xuân tĩnh” là lòng người mùa xuân bình an - yên hòa, khi được hạnh thụ phúc lộc trời đất ban cho lúc xuân về đó thôi. Cỡ 700 năm trước, viết thế, chả “hiền” là gì?

Sau này, Nguyễn Công Trứ, một “hiền nhân - thi sĩ” khác, cũng viết:

Liễu hoàn cực lục, oanh do tĩnh

Đào thỉ tân hồng, điệp vị tri

Tạm dịch:

Liễu cũ xanh rồi, oanh chậm hót

Đào mới hồng lên, bướm chửa hay!

Mãi sau này nữa, Hàn Mặc Tử lại viết:

Chàng ơi! Chàng ơi! Sự lạ đêm qua

Mùa xuân tới, mà không ai biết cả!

Hay thật! Đến tình nhân của thi sĩ còn biết xuân về, từ khi “không ai biết cả”. Thế thì thiên hạ chẳng kém nhạy là gì?

Đến cuối xuân, tiết Thanh minh, thì xuân đã rõ quá rồi và “đẹp như tranh”, để Nguyễn Du tả:

Cỏ non xanh rợn chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Trần Nhân Tông - ông vua hóa Phật - vốn là thiền gia, mà cũng không thể không vung bút trước mùa xuân:

Tan giấc, mở cửa sổ

Thì ra, xuân đã về

Phần phật đôi bướm trắng

Bay vào hoa ngoài kia!

Xưa nữa, Lý Bạch viết:

Xin anh đừng buông chén

Xuân đang cười với ta

Mận đào như bạn cũ

Nghiêng về ta trổ hoa.

Nghìn năm sau, Nguyễn Bính viết:

Mùa xuân là cả một mùa xanh

Giời ở trên cao, lá ở cành

Ra khỏi cổng làng, tôi bỗng thấy

Bắt đầu là cái thắt lưng xanh.

Thảo nào, người ta thường dùng chữ “thanh xuân” - “xuân xanh” - để trỏ mùa xuân đã đành, mà cũng còn dùng để nói về tuổi trẻ nữa. Hàn Mặc Tử viết:

Trong làn nắng ửng: Khói mơ tan

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc

Trên giàn thiên lý, bóng xuân sang...

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời

Bao cô thôn nữ hát trên đồi:

- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi...

Trên kia đã nói về Tết Nguyên Đán. Thật thích khi đọc Đoàn Văn Cừ viết “Chợ tết”:

... Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà

Quên cả chị bên đường đang đứng gọi

Mấy cô bé ôm nhau cười rũ rượi

Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa

Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha

Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết...

Trước đó nhiều, Hồ Xuân Hương tả cảnh chơi đu ngày tết:

Trai đu gối hạc khom khom cật

Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.

Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,

Hai hàng chân ngọc duỗi song song.

Rồi mỗi người một cách. Tú Xương viết về tết Nam Định thời Pháp:

Đì đẹt ngoài sân, tràng pháo chuột

Om thòm trên vách, bức tranh gà

Chí cha chí chát khua giày dép

Đen thủi đen thui cũng lượt là!

Và:

Thiên hạ tan rồi còn đốt pháo

Nhân tình trắng thế lại bôi vôi!

Tản Đà “Khóc tết” vì nghèo:

Trời ơi! Ới tết ơi là tết!

Bác hãy còn hay, tôi mới chết

Gạo tẻ đong chịu, nếp thời không

Áo vợ rách tan, chồng cũng hết

Con theo cạnh nách - mếu môi sò

Nợ réo ầm tai - câm miệng hến

Trời còn để sống đến trăm năm

Lại mấy mươi bài thơ khóc tết!

Nguyễn Khuyến, nhân tết mà ca ngợi phẩm chất bình dị, kiên cường và hữu ích của cây quất, quả quất:

Yêu vì cay không tê

Yêu vì chua không gắt

Yêu vì ngọt khác đường

Yêu vì đắng khác mật

Đã cho ta miếng ngon

Lại có công dã tật

Chẳng ganh ai thơm tho

Chẳng tranh ai đẹp tốt

Vườn nhỏ dễ yêu mình

Rét đông không khuất phục

Quân tử thay gã này

Bọn thường khó sách kịp.

v.v... và v.v...

Nhưng tết, vì hay vì đẹp, vì giàu, vì nghèo, vì mất nước đã đành, còn khiến “hiền nhân - thi sĩ” cầm bút vì bao lẽ khác nữa.

Vì vắng giai nhân:

Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

(Nguyễn Du)

Vì tính “thời vụ”, “bạc bẽo” của tết:

Chơi xuân đã biết xuân chăng tá?

Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!

(Hồ Xuân Hương)

Vì xa chồng - lạnh lùng thân cô phụ:

Từ ngày chàng bước chân đi

Đông qua xuân lại, chửa khi nào về

Năm lần đào nở song khuê

Cầm thư chàng gửi, não nề lòng ta!

(Lý Bạch)

Có người vợ trẻ vô tư lự

Ngày xuân trang điểm bước lên lầu

Chợt thấy liễu mềm bên lối nhỏ

Tiếc để chồng đi kiếm tước hầu!

(Vương Xương Linh)

Vì Xuân - Tết cho người ta thêm tuổi, thì cũng đẩy người ta về phía xa xuân, về cái già, một nấc:

Dây dài khôn buộc mặt trời

Xưa nay ngồi ngẫm sự đời mà cay:

Chất vàng cao chín tầng mây

Cũng không mua được một ngày xuân xanh!

(Lý Bạch)

Ở ta, về việc này, Ngô Thì Nhậm cũng viết:

Mãn thành mai vũ mãn thành xuân

... Lão chí hữu tài nan mãi thiếu!

Tạm dịch:

Khắp thành mưa sớm, khắp thành xuân

... Già đến, tiền nào chuộc tuổi xuân?

Cho nên, nghĩ và làm như Vương Duy là thông thái:

Mỗi ngày, người già đi

Mỗi năm, xuân lại đến

Có rượu là vui rồi

Kệ hoa bay bên chén!

Hay là cứ “dứt khoát” như Nguyễn Công Trứ cũng tốt:

Tối ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa

Sáng mồng Một, rượu say túy lúy, dang tay bồng ông Phúc vào nhà!

Nhưng suy cho cùng, cứ nghĩ như mình là thú nhất:

... Chợt mềm trên mí mắt

Tết, gặp mưa sữa về

Này già, này thì cũ

Lại non như tóc thề

Xuân Kỷ Hợi - 2019

Đỗ Trung Lai