Chiến lược năng lượng Mỹ bị chi phối bởi lợi nhuận ngắn hạn?

20:44 | 27/07/2026

22 lượt xem
|
(PetroTimes) - Chính phủ Mỹ đang giao chiến lược năng lượng cho những người quan tâm nhiều hơn đến báo cáo lợi nhuận quý tiếp theo thay vì an ninh năng lượng quốc gia.
Chiến lược năng lượng Mỹ bị chi phối bởi lợi nhuận ngắn hạn?
Lợi nhuận từ việc lọc một thùng dầu hiện còn cao hơn giá của cả một thùng dầu thô vào thời điểm cuộc chiến Iran bắt đầu. (Ảnh minh họa)

Một tháng trước, cuộc chiến với Iran dường như đang hạ nhiệt. Lệnh ngừng bắn có hiệu lực từ giữa tháng 6. Dầu bắt đầu lưu thông trở lại qua eo biển Hormuz và lượng dầu bị mắc kẹt trước đó quay trở lại thị trường toàn cầu. Giá dầu thô giảm và thị trường lạc quan.

Nhưng sự lạc quan nhanh chóng chấm dứt. Xung đột giữa Mỹ và Iran bùng phát trở lại, kéo giá dầu đi lên.

Tuy nhiên, trong khi mọi người tập trung vào giá dầu thô, một chỉ số khác quan trọng hơn đối với giá xăng lại liên tục tăng. Đó là biên lợi nhuận lọc dầu, hiện đã lên mức cao nhất lịch sử.

Biên lợi nhuận lọc dầu là chênh lệch giữa giá nhà máy lọc dầu mua dầu thô và doanh thu từ việc bán xăng, dầu diesel sau khi chế biến. Trong phần lớn thập kỷ qua, mức chênh này dao động từ 10-15 USD/thùng. Tuần này, nó đã lên tới 70 USD/thùng, mức cao nhất từng được ghi nhận.

Lợi nhuận từ việc lọc một thùng dầu hiện còn cao hơn giá của cả một thùng dầu thô vào thời điểm cuộc chiến bắt đầu. Điều đáng chú ý là biên lợi nhuận lọc dầu vẫn tăng ngay cả khi giá dầu giảm và tiếp tục tăng khi giá dầu quay đầu đi lên. Chỉ số này gần như không phụ thuộc vào biến động của giá dầu.

Theo thị trường, biên lợi nhuận lọc dầu cao cho thấy loại dầu thô phù hợp không đến được các nhà máy lọc dầu phù hợp. Giá dầu có thể tăng hay giảm, nhưng các nhà máy lọc dầu vẫn đang chịu áp lực vì thiếu đúng loại nguyên liệu.

Dầu thô không phải chỉ có một loại

"Dầu thô" là tên gọi chung của hỗn hợp hydrocarbon dạng lỏng được khai thác từ lòng đất. Mỗi mỏ dầu có thành phần khác nhau và khi đưa vào nhà máy lọc dầu sẽ tạo ra tỷ lệ sản phẩm khác nhau.

Không có một loại dầu thô duy nhất. Có rất nhiều loại, khác nhau tùy nơi khai thác, giống như mỗi loại trái cây có hương vị và thành phần dinh dưỡng khác nhau. Có thể hình dung dầu thô giống như một bát salad trái cây: có loại nhiều dâu, có loại nhiều dưa, nhưng không loại nào giống loại nào.

Giả sử một nhà máy nước ép phụ thuộc chủ yếu vào táo vì nước ép táo mang lại lợi nhuận cao nhất. Một ngày nào đó, nguồn nguyên liệu còn lại chứa ít táo hơn. Nhà máy vẫn có thể khai thác nước ép, nhưng không tạo ra đủ nước ép táo để đạt lợi nhuận như trước.

Đó chính là tình trạng của nước Mỹ hiện nay, chỉ khác là với dầu mỏ thay vì táo.

Các nhà máy lọc dầu lớn của Mỹ được xây dựng từ nhiều thập kỷ trước để xử lý hiệu quả dầu nặng, nhiều lưu huỳnh từ Canada, Venezuela, Mexico và vịnh Ba Tư. Sau cuộc bùng nổ dầu đá phiến, Mỹ lại khai thác chủ yếu dầu nhẹ, ít lưu huỳnh - loại mà các nhà máy này không được tối ưu để xử lý.

Đó là lý do ngành dầu mỏ Mỹ có vẻ khó hiểu: Mỹ xuất khẩu phần lớn loại dầu mình khai thác, đồng thời nhập khẩu dầu từ các nước khác. Điều này không phải vô lý. Mỹ bán loại "trái cây" mình có và mua loại "trái cây" phù hợp với những "nhà máy nước ép" mà họ đã xây dựng.

Vì sao việc mở lại eo biển Hormuz vẫn không giải quyết được vấn đề?

Kể từ khi xung đột với Iran bùng phát, các lệnh ngừng bắn liên tục xuất hiện rồi kết thúc, nhưng có một điều không thay đổi: Mỹ vẫn đang rút nhanh lượng dầu dự trữ của mình.

Trước xung đột, thị trường dầu toàn cầu được kết nối bởi mạng lưới tàu chở dầu khổng lồ, đưa từng loại dầu thô đến đúng nhà máy lọc dầu phù hợp nhất. Khi eo biển Hormuz bị phong tỏa, tuyến vận chuyển quan trọng nhất của thế giới bị tê liệt, khiến hệ thống này đổ vỡ. Các quốc gia không còn chờ đúng loại dầu quen thuộc mà phải mua bất cứ nguồn cung nào có sẵn.

Theo báo cáo, thị trường đang đánh giá sai ở chỗ việc mở lại eo biển Hormuz không thể ngay lập tức khôi phục hệ thống này. Dầu có thể lưu thông trở lại, nhưng cần thời gian để tàu chở dầu và các nhà máy lọc dầu được ghép nối tối ưu. Mỗi khi giao tranh bùng phát trở lại, quá trình đó lại phải bắt đầu từ đầu.

Điều này thể hiện qua hai số liệu. Thứ nhất, kể từ khi xung đột bắt đầu, bất chấp các lệnh ngừng bắn, Mỹ vẫn liên tục rút dầu dự trữ. Tổng lượng dầu lưu kho, bao gồm cả Kho Dự trữ Dầu mỏ Chiến lược (SPR), hiện còn khoảng 726 triệu thùng, mức thấp nhất kể từ năm 1984 và thấp hơn khoảng 129 triệu thùng so với thời điểm xung đột bắt đầu.

SPR chịu ảnh hưởng nặng nhất và đã giảm xuống mức thấp nhất trong 43 năm. Các bể chứa cần duy trì một lượng dầu tối thiểu để hệ thống bơm hoạt động, gọi là "tank bottoms". Tuần trước, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) đã phải giải thích khái niệm này vì tại một trong những trung tâm dầu mỏ quan trọng nhất nước Mỹ, giá cả cho thấy lượng dầu tồn kho có thể đã gần chạm mức tối thiểu.

Vấn đề dài hạn còn nghiêm trọng hơn

Theo báo cáo, vấn đề cốt lõi không nằm ở xung đột ở Trung Đông mà ở việc chiến lược năng lượng của Mỹ đang được quyết định bởi những người quan tâm nhiều hơn đến lợi nhuận ngắn hạn thay vì an ninh quốc gia.

Sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, Mỹ từng cấm xuất khẩu dầu thô để bảo đảm an ninh năng lượng trong suốt 40 năm. Tuy nhiên, lệnh cấm được dỡ bỏ năm 2015. Hiện Mỹ xuất khẩu lượng dầu cao kỷ lục, nhiều hơn khoảng 3 triệu thùng/ngày so với một năm trước, trong khi dự trữ dầu trong nước đang giảm xuống mức thấp nhất nhiều thập kỷ.

Báo cáo cho rằng có hai lý do để Mỹ vẫn xuất khẩu dầu. Thứ nhất, phần lớn là dầu nhẹ, ít lưu huỳnh - loại mà nhiều nhà máy lọc dầu trong nước không được thiết kế để xử lý. Thứ hai, các quyết định được đưa ra nhằm tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn thay vì ưu tiên an ninh năng lượng. Theo chuyên gia, thực tế có thể là sự kết hợp của cả hai, nhưng Mỹ hiện không còn một chiến lược năng lượng quốc gia đủ rõ ràng để cân bằng hai mục tiêu này.

Tình trạng tương tự cũng diễn ra với khí tự nhiên - nhiên liệu quan trọng nhất cho các nhà máy điện. Nhu cầu khí đốt tăng mạnh do các trung tâm dữ liệu AI, vốn chiếm khoảng một nửa nhu cầu điện mới của Mỹ trong năm ngoái. Tuy nhiên, Mỹ vẫn xuất khẩu khí tự nhiên ở mức kỷ lục.

Hoạt động xuất khẩu mang lại lợi nhuận cho các doanh nghiệp, nhưng giá điện trong nước đã tăng gần 40%. Theo báo cáo, Mỹ đang bán chính loại nhiên liệu cung cấp điện cho lưới điện quốc gia, trong khi người dân phải trả chi phí cao hơn.

Xung đột với Iran rồi sẽ kết thúc, dù có thể không phải trong tháng này hay năm nay. Eo biển Hormuz sẽ mở rồi lại đóng, trước khi hoạt động vận tải trở lại bình thường và cú sốc trước mắt dần qua đi.

Tuy nhiên, báo cáo cho rằng hậu quả sau cú sốc thường nghiêm trọng hơn chính cú sốc đó. Đại dịch COVID-19 là ví dụ điển hình: phong tỏa chỉ kéo dài vài tháng nhưng những hệ lụy như đứt gãy chuỗi cung ứng, thiếu hàng hóa và lạm phát cao kéo dài lâu hơn nhiều.

Theo chuyên gia, Mỹ đang đối mặt với tình huống tương tự. Xung đột chỉ là cú sốc ban đầu, còn hệ quả là dự trữ dầu suy giảm, nguồn cung dầu không phù hợp với hệ thống lọc dầu, lưới điện chịu áp lực và chi phí sinh hoạt tăng cao. Trong khi đó, Mỹ đang bước vào giai đoạn này với lượng dầu dự trữ thấp nhất trong nhiều thập kỷ.

Báo cáo kết luận rằng nước Mỹ cần một chiến lược năng lượng dài hạn phục vụ lợi ích của người dân, tận dụng những lợi thế riêng của quốc gia, thay vì chỉ mang lại lợi ích cho các nhà đầu tư. Theo chuyên gia, đây là vấn đề an ninh quốc gia và cần được giải quyết ngay khi vẫn còn thời gian.

India Energy Week 2026: Định hình chiến lược năng lượng của Ấn ĐộIndia Energy Week 2026: Định hình chiến lược năng lượng của Ấn Độ
Vì sao Trung Quốc thay dầu Trung Đông bằng than đá Tân Cương?Vì sao Trung Quốc thay dầu Trung Đông bằng than đá Tân Cương?
Khủng hoảng Hormuz thúc đẩy châu Á tái định hình chiến lược năng lượngKhủng hoảng Hormuz thúc đẩy châu Á tái định hình chiến lược năng lượng
Cú sốc Hormuz và bài học từ khủng hoảng dầu mỏ năm 1973Cú sốc Hormuz và bài học từ khủng hoảng dầu mỏ năm 1973

Nh.Thạch

AFP

  • vingroup