Tối ưu hóa chi phí logistics, tạo đà cho xuất khẩu
![]() |
| TS. Bùi Bá Nghiêm, Chuyên viên cao cấp Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương). |
Tại hội nghị “Giải pháp tối ưu hóa chi phí logistics, thúc đẩy xuất khẩu” ngày 22/9, TS. Bùi Bá Nghiêm, Chuyên viên cao cấp Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2035 đưa chi phí logistics xuống mức tương đương 12-15% GDP, đồng thời lọt nhóm 40 quốc gia, vùng lãnh thổ đứng đầu về chỉ số hiệu quả logistics. Để thu hẹp khoảng cách này, cách tiếp cận cần chuyển từ “xây thêm” sang tối ưu toàn chuỗi.
Một trong những đề xuất trọng tâm là xây dựng hệ thống đo lường chi phí logistics ở cấp quốc gia. Bộ Công Thương được đề xuất chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Cục Thống kê, địa phương và hiệp hội logistics thống nhất phương pháp, nguồn dữ liệu và kỳ công bố.
Thay vì chỉ nhìn chi phí logistics so với GDP, hệ thống cần theo dõi theo từng ngành hàng, hành lang vận tải và loại hình doanh nghiệp. Các chỉ số tối thiểu gồm chi phí trên tấn/container/lô hàng; thời gian toàn hành trình và thời gian chờ; tỷ lệ giao hàng đúng hạn; số ngày tồn kho; tỷ lệ xe chạy rỗng; chi phí lưu container, lưu bãi; tỷ lệ chứng từ điện tử và số lần phải khai lại dữ liệu.
Cách tiếp cận này nhằm tránh tình trạng giảm được chi phí ở một khâu nhưng lại làm phát sinh chi phí ở khâu khác. Với mỗi giải pháp, cần có đường cơ sở trước khi can thiệp và đo lại sau khi triển khai.
Một hướng quan trọng khác là phát triển các hành lang vận tải đa phương thức. Theo đề xuất, trên những tuyến có đủ nguồn hàng, cần phát triển sà lan, tàu ven biển và tàu hàng theo lịch, kết hợp gom hàng, tổ chức hàng hai chiều và chia sẻ container rỗng.
Mục tiêu không đơn thuần là chuyển hàng từ đường bộ sang một phương thức khác, mà tạo ra dịch vụ trọn gói với một đầu mối chịu trách nhiệm, được đánh giá bằng tổng chi phí và độ tin cậy của toàn hành lang.
Trong khi đó, tại cảng biển, sân bay, cửa khẩu và kho, cần tăng cường đặt lịch, điều phối phương tiện, trao đổi dữ liệu trước khi hàng đến và công khai trạng thái xử lý. Giá, phí và phụ phí cũng cần được công khai về mức thu, căn cứ, thời điểm áp dụng và dịch vụ tương ứng.
![]() |
| TS. Bùi Bá Nghiêm đề xuất nền tảng điều phối logistics quốc gia phải kết nối các hệ thống hiện có. |
Chuyển đổi số là một trụ cột khác trong cách tiếp cận này. TS. Bùi Bá Nghiêm đề xuất nền tảng điều phối logistics quốc gia phải kết nối các hệ thống hiện có, thay vì tạo thêm một cơ sở dữ liệu khép kín hoặc buộc doanh nghiệp báo cáo lại.
Dữ liệu có thể phục vụ theo dõi luồng hàng, năng lực cảng và kho, đặt lịch, cảnh báo ùn tắc, truy xuất và xử lý vướng mắc liên ngành. Nhà nước tập trung vào chuẩn dữ liệu, giao diện kết nối, quyền truy cập và bảo mật; AI có thể hỗ trợ dự báo, tối ưu tuyến và kiểm tra hồ sơ, nhưng quyết định quản lý vẫn phải có căn cứ pháp lý và trách nhiệm rõ ràng.
Với thủ tục và kiểm tra chuyên ngành, nguyên tắc được đặt ra là cung cấp dữ liệu một lần, xử lý trước khi hàng đến, quản lý rủi ro và hậu kiểm khi đủ điều kiện. Mỗi cải cách cần được thí điểm trên nhóm hàng và cửa khẩu cụ thể, đo bằng thời gian giải phóng hàng, số lần kiểm tra, số chứng từ và chi phí thực tế. Số hóa chỉ thực sự có ý nghĩa khi loại bỏ được giấy tờ và nhập liệu lặp lại.
Đồng thời, TS. Bùi Bá Nghiêm cho rằng, tối ưu logistics không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan quản lý. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần quản trị theo tổng chi phí đến thị trường, chuẩn hóa dữ liệu đơn hàng, dự báo sản lượng, tối ưu bao bì và hệ số xếp, kiểm soát tồn kho, lựa chọn điều kiện giao hàng và phương án tuyến thay thế.
Trong khi đó, doanh nghiệp logistics trong nước cần tăng liên kết để cung cấp dịch vụ tích hợp, đầu tư hệ thống quản lý vận tải và kho, phát triển mạng lưới đại lý ở nước ngoài, nâng năng lực vận tải đa phương thức và logistics lạnh.
Phương Thảo


