Xung đột Trung Đông: Tiềm ẩn cuộc khủng hoảng dầu khí lớn nhất lịch sử (Kỳ 2)
Gián đoạn chuỗi cung ứng dầu khí
Chuỗi cung ứng dầu khí từ khai thác, chế biến, vận chuyển đến phân phối. Không phân phối, vận chuyển được, khâu chế biến đình trệ sẽ dần tràn bể chứa (tank top) dẫn đến dừng nhà máy, kéo theo phải đóng mỏ.
Iran đóng Hormuz tức là các khâu trong chuỗi cung ứng phải dừng hoạt động. Thời gian dừng phụ thuộc vào kích thước bể chứa. Ngoài ra một số cơ sở khai thác và chế biến bị dính bom đạn khiến các nước vùng Vịnh (GCC) dừng khá nhiều nhà máy.
![]() |
| Số lượng tàu trong và ngoài Hormuz ngày 2/3. |
Hằng ngày, 13 triệu thùng dầu thô vào châu Á thì 11 triệu thùng đi tới 4 nước là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ. Họ làm dịch vụ lọc rồi xuất bán sản phẩm xăng dầu khắp nơi. Trừ Ấn Độ, ba nước Đông Á đều có chiến lược dự trữ tốt, tích trữ tổng cộng 1,6-2 tỷ thùng dầu, 100-200 ngày sử dụng, tùy quốc gia. Thực ra, các nước Đông Á vẫn đủ dầu để lọc nhiều tháng tới kể cả khi không có thùng nào về. Tuy nhiên vẫn còn Ấn Độ, Singapore, Đông Nam Á cần khá nhiều dầu cho nhà máy lọc dầu. Các nước này dự trữ dầu thô chỉ 15-60 ngày. Khi Hormuz bị đóng, họ phải mua bằng mọi giá vì các nhà máy lọc dầu hoạt động dưới 60% công suất sẽ không đủ điều kiện vận hành, phải dừng, gây rất nhiều hệ lụy. Mỗi lần khởi động lại nhà máy sẽ tốn hàng triệu đô la, kéo dài vài tuần.
Ngoài dự trữ của quốc gia, các nhà máy có bể chứa nguyên liệu đầu vào, gọi là dự trữ thương mại. Số ngày dự trữ đầu vào lớn hơn nhiều so với số ngày tồn kho sản phẩm đầu ra, bởi không ai muốn tồn kho quá nhiều. Ngoài ra Trung Quốc đã cấm xuất xăng và nhiên liệu máy bay, tức là cả triệu thùng đang tích trữ đầy bể sản phẩm, không bán sang các nước khác như thông thường. Cùng với 5 triệu thùng sản phẩm mắc kẹt ở Trung Đông, hằng ngày thiếu rất nhiều sản phẩm lọc dầu. Vì vậy kênh dầu thô có khơi thông thì kênh sản phẩm lọc đang thiếu trầm trọng do nước nào cũng phòng vệ. Do đó, giá xăng máy bay, tăng hơn 100% trong khi dầu thô tăng 30%. Thời gian tới sẽ hiện ra nhiều sản phẩm khác cũng có tốc độ tăng mạnh hơn giá dầu thô.
Vận tải bị đứt gãy do rất nhiều tàu bị mắc kẹt, hư hỏng và tăng phí bảo hiểm trên thế giới. Thậm chí chưa hãng nào dám bảo hiểm trách nhiệm (P&I) cho tàu qua Hormuz. Sau này, những con tàu bị bắn thủng, đang nằm ở vịnh Ba Tư sẽ phải tự bỏ chi phí kéo về và sửa chữa, nếu tràn dầu còn phải tự đền bù trách nhiệm môi trường. Đứt gãy nguồn cung dầu thô, dầu lọc, tàu biển và bảo hộ khắp nơi mọc lên khiến thị trường giao dịch sản phẩm lọc dầu biến động rất mạnh. Dầu lọc trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống. Các doanh nghiệp sử dụng các sản phẩm dầu mỏ đang tranh giành từng chút các lô hàng trên thế giới cũng như canh đơn hàng tàu vận tải. Các doanh nghiệp thứ cấp khác và người tiêu dùng sẽ cảm nhận tác động này trong thời gian tới.
Tác động kéo dài đến khi nào?
Dự báo này không dễ, nhưng có thể lấy Liên minh châu Âu (EU) làm một trong nhiều tham chiếu (benchmark). Năm 2022 EU tiêu thụ hơn 300 tỷ m3 khí đốt, khoảng 10% toàn cầu. Họ phụ thuộc 30% vào khí đốt Nga. Khi Nga cắt giảm, giá khí lúc cao nhất đã tăng 300% so với trước chiến tranh.
Lần này với châu Á, nơi tiêu thụ 40% lượng dầu thế giới, khoảng 40 triệu thùng. Eo biển Hormuz chỉ cấp được 1/3 nhu cầu dầu thô, 1/5 nhu cầu LNG. Bức tranh về tỷ lệ cũng khá giống châu Âu 2022, thậm chí nặng hơn. Cái đó có thể là gốc cơ sở cho châu Á khi tính toán sự tăng giá. Còn từng nước, từng sản phẩm sẽ có những mức dao động khác nhau trên nền tảng gốc đó.
Ngoài lượng dầu khí nói trên, Hormuz còn giữ 35% Heli (dùng trong máy MRI y tế và sản xuất chip), 8% lưu huỳnh, 40% Ure. Đây là những sản phẩm quan trọng trong sản xuất chip và nông nghiệp. Hình dung đơn giản, nếu 1 cổ phiếu có 1 quỹ tiến hành mua 10-40% số cổ phiếu và không cho lưu hành chỗ đó, giá cổ phiếu sẽ tăng lên như nào. Các nguyên liệu ở trên cũng sẽ tăng giá theo nguyên lý như vậy. Kết hợp thiếu tàu vận tải và chi phí vận tải tăng cao khiến thị trường sản phẩm dầu khí như đi vào cơn bão.
Cũng thực sự khó khi đặt mục tiêu khủng hoảng đến khi nào, dù không phải không có phương pháp. Nhưng mọi dự báo chỉ là tương đối. Thị trường hiện nay đang trong trạng thái biến động khó lường. Như Trung Quốc bất ngờ cấm xuất xăng khiến nước Úc, nơi có 30% xăng từ Trung Quốc đang vất vả xoay xở nhiên liệu hàng không. Họ phải nhảy vào cuộc đua tìm nguồn thay thế cùng các nước khác, gây xáo trộn thị trường, dẫn đến tăng giá rất cao. Thông thường, khi dầu thô có giá 80 USD/thùng thì xăng máy bay sẽ khoảng 100 USD/thùng nhưng hiện nay, xăng máy bay đã lên hơn 250 USD/thùng. Xăng ô tô cũng tương tự.
Giả sử Iran thông tuyến qua eo biển Hormuz, chuỗi cung ứng sẽ phải khắc phục tất cả các khâu. Các tàu biển vào nhập hàng, ưu tiên những tàu chở dầu siêu lớn (VLCC), sức chứa 2 triệu thùng. Các tàu này phải đi nhiều cảng mới chất đầy tàu, mới giải phóng chỗ cho các tàu khác. Do đó các tàu phải mất nhiều tuần mới xong việc bốc dầu đi. Hàng tồn kho được giải phóng thì các cụm công nghiệp mới khởi động lại. Chuỗi khởi động lại cũng mất 2-8 tuần mới ổn định chất lượng sản phẩm. Nhà máy càng to thì càng lâu vì qua rất nhiều công đoạn. Sau đó khởi động lại chuỗi mỏ khai thác. Nhìn chung khi Iran mở lại Hormuz, phải mất ít nhất 3 tháng mới trở lại trạng thái bình thường.
![]() |
| Số nhà máy lọc dầu phải tạm dừng trên thế giới đến ngày 12/3. |
Đó là chưa tính các hãng bảo hiểm ở Anh hiện từ chối bảo hiểm trách nhiệm cho tàu qua Hormuz vì rủi ro chiến tranh vẫn còn đó. Khi tình trạng hai bên chưa rõ ràng, sẽ khó có hoạt động bảo hiểm, vì chỉ 2-3 con tàu VLCC bị cháy, tràn dầu là cả hệ thống bảo hiểm Anh Quốc không đủ tiền đền bù. Bảo hiểm là nghề kinh doanh trên rủi ro nhưng phải có số liệu thông tin thì các hãng bảo hiểm mới tính được mức độ rủi ro của họ, từ đó ra mức phí. Họ không vì thu vài triệu đô la phí bảo hiểm để rồi đền bù cả tỷ đô tiền trách nhiệm các loại. Không có bảo hiểm thì các chủ tàu không dám vận chuyển vì cả cơ nghiệp họ được bảo vệ bởi các hợp đồng bảo hiểm. Chuỗi cung ứng không thông thì các khâu trước đó tiếp tục tắc.
Vì vậy bức tranh khơi thông dòng chảy dầu khí qua Hormuz thực sự vẫn rất tối tăm. Kết hợp với thực trạng xung đột giữa Mỹ - Israel và Iran còn căng thẳng kéo dài, cánh cửa dầu khí từ Trung Đông chưa có chút ánh sáng nào. Bức tranh này hoàn toàn giống châu Âu những năm 2022-2023 trong vụ khí đốt với Nga.
Ánh sáng duy nhất của bức tranh này chỉ khi giá dầu và nhiên liệu quá cao, triệt giảm nhu cầu để thị trường tự cân bằng cung - cầu, tuy nhiên điều này cần thời gian. Do đó những biến động hiện nay, dù rất mạnh, nhưng mới chỉ ở giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng. Thực sự không quá khi nói rằng cuộc khủng hoảng dầu mỏ này sẽ là cuộc khủng hoảng dầu mỏ lớn nhất lịch sử. Cá nhân tác giả dự báo giá dầu thô lên 150-180 USD trong 2026 và giá nhiên liệu sẽ có những lúc biến động mạnh hơn.
Tác động đến Việt Nam và một số giải pháp
Việt Nam thuộc nhóm nước bị ảnh hưởng khi Trung Đông biến động. Có thể thấy các lĩnh vực tiêu thụ nhiên liệu bị tác động:
- Giao thông đường bộ tăng chi phí hàng hóa
tác động mọi mặt
- Giao thông đường không tăng chi phí đi lại
tác động du lịch & hàng hóa cao cấp
- Giao thông đường thủy tác động ngư dân & thủy hải sản & vận tải biển
- Khai thác vật liệu & xây dựng tác động các dự án xây dựng hạ tầng khắp nơi
- Phân bón tác động nông nghiệp
- Sản phẩm lọc hóa dầu tác động hầu hết hàng tiêu dùng
- Khí tăng giá điện
tác động toàn bộ nền kinh tế.
Mặt bằng giá hiện nay dựa trên nền tảng giá dầu 60-70 USD suốt năm qua. Nay giá dầu tăng cao và thiếu hụt nguồn cung lọc dầu, mỗi lĩnh vực có thể sẽ tự tính ra mức độ tăng giá của ngành mình.
Về giải pháp, xác định căng thẳng giá dầu sẽ kéo dài, có thể nửa năm, nên các quỹ bình ổn xăng dầu có khả năng không đủ sức trong cuộc đua đường dài. Ngày 13/3, Thái Lan đã cho cả nước làm việc online để tiết kiệm năng lượng. Điều này cho thấy Thái Lan đã hiểu sự nghiêm trọng của thị trường. Giải pháp này đã tác động tới ý thức của từng người dân trong việc sử dụng nhiên liệu. Thống kê của IEA cho thấy, hơn 50% nhiên liệu các nước phục vụ giao thông vận tải.
Nói chung, so với 2025 thì kinh tế năm 2026 sẽ chịu nhiều khó khăn hơn. Tuy nhiên nền kinh tế Việt Nam vẫn có động lực rất lớn với quán tính và sức trẻ dân số, nên so với các nước trong khu vực thì Việt Nam vẫn có cơ hội và động lực để ứng phó với các tình huống. Trong lịch sử, những lần khủng hoảng giá dầu năm 1973, 1979, 2008 đều là động lực để Nhật Bản, Trung Quốc điện khí hóa, giảm phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch và phát triển đường sắt cao tốc cũng như xe điện.
Có lẽ một số giải pháp ngắn hạn có thể triển khai ngay khi mục tiêu Việt Nam 2026 là tiếp tục phát triển hạ tầng là ưu tiên. Bản chất việc giá dầu tăng cao sẽ gây thiệt hại chung cho nền kinh tế nhưng nếu gom thiệt hại đó, để chuyển vào chi phí của nhà nước, sẽ gỡ khó từ gốc là chi phí vận tải, giải tỏa phần nào gánh nặng toàn dân, giảm thiệt hại khổng lồ cho cả nền kinh tế.
Dưới đây là một số giải pháp cấp bách có thể tiến hành sớm:
1. Các doanh nghiệp, trường học (tùy thực trạng) có thể tiến hành làm việc trực tuyến, giảm tiêu thụ năng lượng. Giải pháp này cũng thúc đẩy mạnh công tác chuyển đổi số.
2. Tiếp tục phát triển hạ tầng để có chi phí logistic cạnh tranh hơn so với các nước. Do đó vẫn giữ tốc độ đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông. Việc đầu tư hạ tầng cũng giúp GDP Việt Nam duy trì tốc độ mục tiêu.
3. Hỗ trợ chi phí vận tải khi giá nhiên liệu tăng cao. Vì giá xăng phụ thuộc thế giới, không thể kiểm soát, nên nhà nước sẽ hỗ trợ bằng giảm phí giao thông cho các xe tải chở hàng hóa. Xe càng lớn mức độ giảm càng cao, để tiết kiệm và tối ưu sử dụng năng lượng.
4. Dịch chuyển vận tải đường bộ sang vận tải đường thủy và đường sắt nhiều hơn vì chi phí thấp. Cần giải quyết các nút thắt của đường thủy như thông thuyền, cảng sông, đường kết nối bến cảng. Các nút thắt của đường sắt là đường kết nối ga, mở các kho bãi công ten nơ quanh các nhà ga. Các giải pháp này đều có thể tiến hành làm nhanh.
5. Đẩy mạnh phát triển phương tiện công cộng tại các thành phố, ưu tiên phương tiện điện khí hóa, giảm lưu thông phương tiện nhiên liệu hóa thạch.
Về dài hạn hoặc vĩ mô hơn còn rất nhiều giải pháp liên quan đến đầu tư, tài chính, chính sách, nhiều lĩnh vực, như xây dựng kho dự trữ dầu quốc gia, đẩy mạnh năng lượng tái tạo.
Năm 2007-2008, giá dầu tăng cao, từ 100 USD lên 150 USD trong 6 tháng. Sau khi giá dầu đạt đỉnh, tháng 9/2008 bắt đầu khủng hoảng tài chính với Lehman Brothers, kéo theo cả thị trường tài chính và dầu khi đều sụp đổ đến cuối 2009. Chưa biết khủng hoảng lần này sẽ giá dầu lên tới mức nào, kéo dài bao lâu, nhưng mục tiêu của Iran chủ yếu đánh Mỹ bằng tài chính. Vì vậy hơi hướng lần này có thể sẽ giống năm 2008, dù còn rất sớm để kết luận. Trong khủng hoảng 2008 thì Mỹ, châu Âu vật lộn chống chọi khủng hoảng còn Trung Quốc tung giải pháp kích cầu đầu tư ngược hoàn toàn với Mỹ. Sau khủng hoảng 2008, Trung Quốc thu hẹp nhanh hơn thông thường cách biệt kinh tế với Mỹ và là bước đệm lớn cho những thành công sau này trong hạ tầng.
Trung Linh
-
Xung đột Trung Đông: Tiềm ẩn cuộc khủng hoảng dầu khí lớn nhất lịch sử (Kỳ 2)
-
Xung đột Trung Đông: Tiềm ẩn cuộc khủng hoảng dầu khí lớn nhất lịch sử (Kỳ 1)
-
Nước Mỹ chao đảo vì chiến dịch “thống trị năng lượng”?
-
Bất khả kháng tại vùng Vịnh: Thử thách với chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu
-
Xung đột Trung Đông bước vào “giai đoạn quyết định”






