Đã đến lúc Hàn Quốc và Nhật Bản dựa cả vào Mỹ?
![]() |
| Xung đột Trung Đông đang tạo động lực cho Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Nhật Bản phát triển các thỏa thuận dự trữ dầu mỏ và LNG chiến lược chung. (Ảnh Shutterstock/Dancing_Man) |
Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản từ lâu đã tìm kiếm một cách tiếp cận hợp tác ba bên hiệu quả nhằm tăng cường an ninh năng lượng và năng lực cạnh tranh công nghiệp của mỗi nước. Trong những năm gần đây, việc tận dụng thế mạnh bổ trợ của ba quốc gia trong các lĩnh vực như năng lượng hạt nhân và khoáng sản quan trọng đã trở thành chủ đề được thảo luận sôi nổi. Tuy nhiên, dù các lĩnh vực này vẫn quan trọng, chiến sự với Iran đã khiến dầu khí vượt lên trên năng lượng hạt nhân và khoáng sản quan trọng để trở thành lĩnh vực hợp tác ba bên cấp thiết nhất hiện nay.
Cuộc chiến đã gây ra nhiều thách thức cho ngành năng lượng tại vịnh Ba Tư. Các hoạt động quân sự đã làm hư hại nhiều mỏ dầu khí cùng cơ sở hạ tầng xuất khẩu trong khu vực. Đồng thời, việc eo biển Hormuz trên thực tế bị phong tỏa đã làm giảm mạnh các chuyến hàng dầu khí từ vịnh Ba Tư và đẩy giá năng lượng tăng cao. Hàn Quốc và Nhật Bản là hai trong số những nền kinh tế chịu tác động nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng năng lượng do chiến sự gây ra, do phụ thuộc lớn vào nguồn dầu khí nhập khẩu từ Trung Đông. Chẳng hạn, Trung Đông hiện chiếm hơn 70% lượng dầu thô nhập khẩu của Hàn Quốc và khoảng 90% của Nhật Bản.
Mỹ nổi lên như chỗ dựa quan trọng cho an ninh năng lượng
Dù không có nhà cung cấp đơn lẻ nào có thể bù đắp hoàn toàn phần thiếu hụt từ nguồn cung Trung Đông, cuộc chiến đã cho thấy vai trò của Mỹ như một nhân tố củng cố an ninh năng lượng cho hai đồng minh chủ chốt của Washington tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Ví dụ, xuất khẩu dầu thô của Mỹ đã tăng từ mức trung bình 4 triệu thùng/ngày trong năm 2025 lên 5,2 triệu thùng/ngày trong tháng 3 và tháng 4, trong đó phần lớn được chuyển sang châu Á. Riêng lượng dầu xuất sang châu Á trong tháng 4 đạt 60 triệu thùng, tương đương khoảng một nửa tổng lượng dầu thô Mỹ xuất khẩu trong tháng đó và tăng khoảng 65% so với cùng kỳ năm trước.
Ngoài ra, xuất khẩu các sản phẩm lọc dầu và nguyên liệu hóa dầu của Mỹ, như naphtha - nguyên liệu quan trọng để khai thác nhựa và sợi tổng hợp - cũng tăng mạnh. Chẳng hạn, lượng naphtha Nhật Bản nhập khẩu từ Mỹ trong tháng 4 đạt mức cao nhất kể từ tháng 12/2021. Đồng thời, Mỹ cũng đã vươn từ vị trí nhà cung cấp naphtha lớn thứ bảy lên vị trí số một của Hàn Quốc chỉ trong vòng một năm.
Hàn Quốc và Nhật Bản cũng phụ thuộc vào nguồn khí đốt Trung Đông, với tỷ trọng lần lượt chiếm 20% và 11% tổng lượng nhập khẩu tính đến năm 2025. Khi nguồn cung khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) từ Trung Đông suy giảm kể từ cuối tháng 2, các nước nhập khẩu đã chuyển sang LNG của Mỹ để giảm bớt tình trạng thiếu hụt nguồn cung. Trong tháng 3, xuất khẩu LNG của Mỹ đạt gần 11 triệu tấn, cao hơn khoảng 15% so với tháng 3/2025. Tương tự dầu thô, lượng LNG Mỹ xuất sang châu Á cũng tăng mạnh, tăng tới 175% kể từ cuối tháng 2.
Điểm tích cực là năng lực xuất khẩu LNG của Mỹ vẫn rất dồi dào. Trong năm 2025, lượng LNG xuất khẩu của Mỹ đạt 111 triệu tấn/năm - tương đương tổng lượng LNG nhập khẩu hàng năm của Hàn Quốc (47 triệu tấn) và Nhật Bản (65 triệu tấn) cộng lại. Tuy nhiên, tính đến năm ngoái, LNG Mỹ mới chỉ chiếm 9% lượng nhập khẩu của Hàn Quốc và 7% của Nhật Bản. Dù vậy, khi công suất xuất khẩu của Mỹ có thể tăng hơn gấp đôi vào năm 2029, LNG Mỹ được kỳ vọng sẽ đóng vai trò lớn hơn trong việc củng cố an ninh nguồn cung khí đốt cho Hàn Quốc và Nhật Bản, đúng như những cam kết mua năng lượng từ Mỹ mà Seoul và Tokyo đã đưa ra.
Hợp tác dự trữ chiến lược mở ra mô hình mới cho an ninh năng lượng
Vậy đâu là những cơ hội mới cho hợp tác ba bên? Một trong những cơ hội đó là xây dựng kho dự trữ dầu chiến lược ba bên, tương tự các thỏa thuận mà Hàn Quốc và Nhật Bản hiện có với các nhà cung cấp Trung Đông như Ả Rập Xê-út, UAE và Kuwait. Theo cơ chế này, Hàn Quốc và Nhật Bản sẽ cho thuê các bể chứa để lưu trữ dầu của Mỹ, đổi lại họ được quyền ưu tiên mua trong trường hợp xảy ra khủng hoảng nguồn cung.
Ý tưởng dự trữ dầu thô Mỹ tại Nhật Bản để phục vụ nhu cầu mua khẩn cấp thực tế đã được Tokyo đưa ra trước đó. Tuy nhiên, cũng có khả năng Hàn Quốc và Nhật Bản sẽ cùng phối hợp lưu trữ dầu thô Mỹ nhằm bổ sung cho lượng dự trữ lớn hiện có của chính phủ và doanh nghiệp tại hai nước.
Các nhà máy lọc dầu hiện nay ở Hàn Quốc và Nhật Bản chủ yếu được thiết kế tối ưu để xử lý dầu thô từ Trung Đông, vốn thường có hàm lượng lưu huỳnh cao hơn và nặng hơn so với dầu thô Mỹ. Dù việc nâng cấp toàn diện công suất lọc dầu có thể tốn kém và mất nhiều thời gian, vẫn có thể thực hiện các điều chỉnh vận hành và cải tiến từng phần để tăng khả năng tiếp nhận dầu thô Mỹ.
Một phương án khác là triển khai dự án ba bên, trong đó Hàn Quốc và Nhật Bản lưu trữ nhiều loại nguyên liệu đầu vào và sản phẩm lọc dầu khác nhau của Mỹ; đồng thời hai nước sẽ được quyền ưu tiên mua theo các điều khoản đã thỏa thuận trước nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công bằng. Khuôn khổ hợp tác ba bên này có thể giúp kiểm soát chi phí đầu tư và vận hành cho hoạt động dự trữ, đồng thời tối đa hóa phạm vi các loại sản phẩm được lưu trữ.
Ba nước cũng có thể áp dụng mô hình dự trữ ba bên đối với khí đốt chiến lược. Tính đến đầu tháng 3, Nhật Bản nắm giữ khoảng 4 triệu tấn LNG tồn kho, tương đương khoảng ba tuần tiêu thụ hoặc bằng tổng lượng LNG phụ thuộc vào eo biển Hormuz trong một năm. Cũng trong tháng 3, lượng tồn kho LNG của Hàn Quốc vẫn “cao hơn nhiều” so với mức dự trữ bắt buộc tương đương chín ngày sử dụng. Hai nước cũng đang tích cực tìm mua các lô hàng giao ngay nhằm giảm bớt tình trạng thiếu hụt nguồn cung.
Nhằm tăng cường an ninh nguồn cung khí đốt, Hàn Quốc và Nhật Bản có thể xem xét một cơ chế ba bên để dự trữ LNG của Mỹ, dưới hình thức lưu trữ vật chất - tương tự mô hình áp dụng với dầu thô và sản phẩm dầu của Mỹ - hoặc dự trữ “ảo” thông qua các cơ chế hợp đồng bảo đảm Mỹ sẽ cung cấp LNG cho hai nước trong trường hợp gián đoạn nguồn cung, với mức giá trước khủng hoảng được xác định theo công thức đã thống nhất từ trước.
Hiện đã có nhiều sáng kiến hợp tác năng lượng giữa Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản, trong đó chính phủ và doanh nghiệp các bên cùng phối hợp nhằm tạo ra lợi ích về kinh tế và an ninh năng lượng thông qua việc tận dụng các năng lực bổ trợ lẫn nhau. Tuy nhiên, hợp tác ba bên thực chất vẫn còn khá hạn chế.
Khi cuộc khủng hoảng năng lượng tại eo biển Hormuz làm lung lay nền tảng an ninh năng lượng của Hàn Quốc và Nhật Bản, hợp tác ba bên trong lĩnh vực dầu khí cần được xem xét nghiêm túc hơn, không chỉ như một giao dịch kinh tế mà còn là một nỗ lực bảo đảm an ninh kinh tế. Việc củng cố khả năng chống chịu kinh tế của Hàn Quốc và Nhật Bản phù hợp trực tiếp với lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ, đồng thời có ý nghĩa quan trọng đối với năng lực cạnh tranh địa kinh tế của các nền kinh tế thị trường dựa trên luật lệ.
Nh.Thạch
AFP
-
Iran nhắm tới "huyết mạch số" nằm sâu dưới eo biển Hormuz
-
Đã đến lúc Hàn Quốc và Nhật Bản dựa cả vào Mỹ?
-
Ả Rập Xê-út và thế "tọa sơn quan hổ đấu" trong xung đột Mỹ - Iran
-
Azerbaijan: Một ngọn lửa vĩnh cửu vẫn cháy dưới chân Yanar Dag
-
Tổng thống Trump đi tìm "công thức thần kỳ" chấm dứt xung đột với Iran



