Nguồn lực mở cơ đồ đất Việt

13:05 | 18/08/2022

|
Để tài nguyên "mặt tiền Biển Đông" thực sự trở thành nguồn lực phát triển đất nước, cần phải có những động lực từ bàn tay, khối óc và ý chí mạnh mẽ của con người thông qua những tầm nhìn và khả năng dẫn dắt của giới tinh hoa và lãnh đạo xã hội trong thời đại công nghệ ứng dụng đang phát triển ngày nay.
Nguồn lực mở cơ đồ đất Việt - Ảnh 1.
Cảng biển quốc tế lớn nhất Việt Nam - Lạch Huyện ( Hải Phòng)

Việt Nam là một quốc gia đất hẹp người đông nhưng cũng là đất nước có tiềm năng tài nguyên kinh tế biển đặc biệt nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có vị trí địa chính trị và địa kinh tế không phải quốc gia nào cũng có. Việt Nam có bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam và cứ 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển. Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành phố ven biển. Đáng chú ý là vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000 km² Biển Đông (gấp 3 lần diện tích đất liền) với khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa, phân bố khá đều theo chiều dài của bờ biển đất nước, như một tuyến phòng thủ tiền tiêu bảo vệ sườn phía Đông của đất nước.

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt, sông ngòi và biển đảo luôn gắn với quá trình xây dựng và phát triển đất nước, mở mang cơ đồ đất Việt. Hoạt động khai hoang, lấn biển đã được ông cha ta tiến hành rất sớm, từ thời nhà Trần (Trần Nhân Tông - 1248) đã diễn ra mạnh mẽ. Vào thế kỷ 15, nhà Lê đã khuyến khích các công trình khai hoang, lấn biển và nhờ đó lập ra nhiều làng mới ven biển các tỉnh Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình (ngày nay). Cách đây gần 200 năm, Nguyễn Công Trứ chiêu mộ dân nghèo đắp đê, bắt đầu cuộc chiến lấn biển, chinh phục bãi bồi ở vùng đất Kim Sơn (Ninh Bình). Đến thời nhà Nguyễn, khai hoang, lấn biển đã trở thành quốc sách, có ngạch quan "Doanh điền sứ" trông coi.

Bước vào thời kỳ đổi mới, nhiều dự án lấn biển đã và đang được thực hiện ở hầu hết các tỉnh, thành phố ven biển với quy mô khác nhau nhưng các dự án lấn biển có quy mô lớn tập trung tại tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Kiên Giang… Các dự án lấn biển đã có những đóng góp quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội thời gian vừa qua, làm thay đổi bộ mặt đô thị và nông thôn ở khu vực ven biển, hải đảo. Đặc biệt nhất là cách đây vừa tròn 40 năm, vào năm 1982, dự án lấn biển Đồ Sơn (Hải Phòng) hoàn thành cũng như các dự án đào kênh và đường xuyên đảo Cát Hải, Cát Bà với tinh thần vươn ra biển "làm giàu, đánh thắng" của quân và dân Hải Phòng đã hình thành bộ mặt hoàn toàn mới của thành phố Cảng - cửa ngõ của cả vùng đồng bằng Bắc Bộ. Sự kiện này được nhà thơ Tố Hữu khắc họa trong câu thơ bất hủ: "… Đào kênh lấn biển mở cơ đồ…". Đó cũng chính là cơ sở chủ yếu đảm bảo không chỉ cho sự hình thành hai xã mới là Tân Thành và Hải Thành (quận Dương Kinh) mà còn thúc đẩy sự xây dựng và phát triển hiệu quả các dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN – cảng biển – phi thuế quan Nam Đình Vũ rộng 1.329 ha và cảng Lạch Huyện lớn nhất cả nước tại Hải Phòng.

Nguồn vốn to lớn chờ khai mở

Theo quan điểm của các nhà kinh tế, trong nền kinh tế thị trường, nguồn lực (vốn) là yếu tố then chốt đối với hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, trong đó có thể phân biệt năm loại vốn cơ bản: Tài chính, tài nguyên, sản phẩm vật chất, con người và xã hội. Tất cả đều là nguồn lực có khả năng tạo ra dòng sản phẩm đầu ra để hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Vốn tài nguyên được tạo thành từ các nguồn tài nguyên và các dịch vụ hệ sinh thái của thế giới tự nhiên, trong đó, vị trí địa chính trị của đất nước là vốn tài nguyên quý giá. Chính vì vậy, Việt Nam hiện nay với vị trí quan trọng bên Biển Đông luôn là đối tác không thể thiếu trong các chương trình nghị sự của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, để tài nguyên "mặt tiền Biển Đông" thực sự trở thành nguồn lực phát triển đất nước, cần phải có những động lực từ bàn tay, khối óc và ý chí mạnh mẽ của con người thông qua những tầm nhìn và khả năng dẫn dắt của giới tinh hoa và lãnh đạo xã hội trong thời đại công nghệ ứng dụng đang phát triển ngày nay. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khoá XII đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về "Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045". Theo đó, đến năm 2030, phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới.

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, các cơ quan Trung ương và các địa phương có biển đã ban hành chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết. Kinh tế biển, các vùng biển, ven biển đang trở thành động lực phát triển của đất nước: Hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư, đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng biển được cải thiện rõ rệt… Kinh tế biển và ven biển đóng góp tỉ lệ lớn vào tổng sản phẩm quốc nội, là nguồn thu ngoại tệ mạnh phục vụ phát triển đất nước. Du lịch biển đảo mang lại 70% doanh thu cho ngành du lịch cả nước. Vận tải hàng hóa đường biển đạt 85,1 triệu tấn. Sản lượng khai thác quy dầu khí đạt 18,43 triệu tấn (khai thác dầu thô đạt 10,97 triệu tấn). Sản lượng thủy sản khai thác đạt 3.920 nghìn tấn; nuôi trồng đạt 4.805.800 tấn. Các khu công nghiệp, khu đô thị, các vùng biển với các cảng biển dựa trên hệ sinh thái kinh tế và tự nhiên, kết nối chiến lược Bắc - Nam, Đông - Tây giữa các vùng trong nước và với quốc tế.

Cả nước hiện có 18/19 khu kinh tế ven biển nằm trong quy hoạch đã được thành lập. Đã hình thành chuỗi đô thị biển với gần 600 đô thị, chiếm khoảng 8% số lượng đô thị cả nước với dân số khoảng 19 triệu người. Đồng thời, việc phát triển kinh tế biển có vai trò quan trọng trong tăng cường sức mạnh tổng hợp, thế và lực của quốc gia cũng như nâng cao "thế trận lòng dân" trên các vùng biển, đảo, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước.

Mặc dù vậy, theo các nhà chiến lược kinh tế biển thì quy mô kinh tế biển còn khiêm tốn, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý. Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển và các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo biển, thiên tai biển, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn... ở ven biển còn nhỏ, trang bị thô sơ, năng lực còn yếu. Môi trường biển biến đổi theo chiều hướng xấu. Đa dạng sinh học biển và nguồn lợi thủy sản đang giảm sút nghiêm trọng, thiếu bền vững.

Những yếu kém xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có cả các nguyên nhân khách quan từ diễn biến cực đoan trong biến đổi khí hậu toàn cầu, song chủ yếu từ những nguyên nhân chủ quan. Cụ thể là: Quản trị biển theo không gian, quản lý tổng hợp vùng bờ biển, quy hoạch không gian biển còn chậm được áp dụng. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách phục vụ kết nối và phát triển bền vững kinh tế biển còn thiếu và chưa đồng bộ…

Làm gì để tài nguyên biển thành nguồn lực phát triển đất nước?

Chính vì vậy, để chiến lược kinh tế biển thực sự là động lực biến tài nguyên biển thành một trong năm nguồn lực vật chất cho xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước đang hướng tới tầm nhìn đến năm 2045, xin đề xuất bốn giải pháp trọng điểm:

Một là, cần bổ sung vào Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định về quản lý, sử dụng đất hình thành từ lấn biển, đặc biệt là dự án lấn biển không sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước đảm bảo hài hòa lợi ích của ba chủ thể kinh tế là Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Hơn nữa, phải gắn các nội dung này với tầm nhìn khu vực và quy hoạch quốc gia cũng như luật pháp quốc tế liên quan.

Hai là, có chính sách chủ động trong việc đưa ra các sáng kiến về kinh tế biển để hội nhập hiệu quả với các sáng kiến hội nhập kinh tế quốc tế của khu vực khi Biển Đông đang là mắt xích ngày càng quan trọng với các sáng kiến logistics quốc tế trong quá trình chuỗi cung ứng toàn cầu đang chuyển dịch nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ của Việt Nam.

Ba là, cần liên kết việc phát triển kinh tế biển với trục cao tốc phía đông hướng tới việc xây dựng một mô hình liên kết kinh tế tiểu vùng, hình thành không gian phát triển mới, phát huy tối đa lợi thế của các địa phương, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, tăng trưởng kinh tế cao và có cộng đồng DN phát triển mạnh, tạo ra các cực tăng trưởng khu vực Bắc, Trung, Nam trên tinh thần CNH và HĐH góp phần lan tỏa hợp tác sang cả các quốc gia láng giềng như ASEAN, Lào, các tỉnh tây nam Trung Quốc…

Bốn là, phát triển kinh tế biển cần gắn liền việc đầu tư nghiên cứu, dự báo, đào tạo và phát triển công nghệ cũng như với chiến lược đối phó biến đổi khí hậu, chính sách bảo tồn đa dạng sinh học biển và các vấn đề xã hội học đảm bảo phát triển bền vững đất nước.

TS. Đoàn Duy Khương

Theo Báo Chính phủ

[PetroTimesMedia] Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Hoàng Quốc Vượng tiếp Tổng giám đốc HSBC Việt Nam[PetroTimesMedia] Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Hoàng Quốc Vượng tiếp Tổng giám đốc HSBC Việt Nam
Bản tin Năng lượng 18/8: OPEC không chịu trách nhiệm về tình trạng lạm phátBản tin Năng lượng 18/8: OPEC không chịu trách nhiệm về tình trạng lạm phát
Chi bộ 2 Đảng bộ BIENDONG POC sinh hoạt chuyên đề “Cách mạng Tháng 8 và ý nghĩa lịch sử”Chi bộ 2 Đảng bộ BIENDONG POC sinh hoạt chuyên đề “Cách mạng Tháng 8 và ý nghĩa lịch sử”

  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • novaland-16-8
  • pvoil-duong-xa-them-gan
  • sao-thai-duong
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 65,400 66,400
AVPL/SJC HCM 65,400 ▲100K 66,400 ▲100K
AVPL/SJC ĐN 65,400 ▲100K 66,400
Nguyên liêu 9999 - HN 51,900 ▲200K 52,400 ▲200K
Nguyên liêu 999 - HN 51,850 ▲200K 52,350 ▲200K
AVPL/SJC Cần Thơ 65,400 66,300
Cập nhật: 05/10/2022 09:15
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 52.500 ▲200K 53.600 ▲200K
TPHCM - SJC 65.400 66.400
TPHCM - Hà Nội PNJ 52.500 ▲200K
Hà Nội - 65.400 66.400 05/10/2022 08:28:08 ▲1K
Hà Nội - Đà Nẵng PNJ 52.500 ▲200K
Đà Nẵng - 65.400 66.400 05/10/2022 08:28:08 ▲1K
Đà Nẵng - Miền Tây PNJ 52.500 ▲200K
Cần Thơ - 65.550 66.450 ▲100K 05/10/2022 08:42:13 ▲1K
Cần Thơ - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 52.500 ▲200K
Giá vàng nữ trang - 52.000 52.800 ▲200K 05/10/2022 08:28:08 ▲1K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 38.350 ▲150K 39.750 ▲150K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 29.640 ▲120K 31.040 ▲120K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.720 ▲90K 22.120 ▲90K
Cập nhật: 05/10/2022 09:15
AJC Mua vào Bán ra
Đồng vàng 99.99 5,220 ▲30K 5,310 ▲30K
Vàng trang sức 99.99 5,135 ▲30K 5,295 ▲30K
Vàng trang sức 99.9 5,125 ▲30K 5,285 ▲30K
Vàng NL 99.99 5,135 ▲30K
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,560 ▲10K 6,670 ▲20K
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,555 ▲20K 6,655 ▲20K
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,550 ▲5K 6,650 ▲5K
Vàng NT, TT 3A Thái Bình 5,230 ▲30K 5,330 ▲30K
Vàng NT, TT 3A Nghệ An 5,220 ▲30K 5,320 ▲40K
Vàng NT, TT 3A Hà Nội 5,220 ▲30K 5,310 ▲30K
Cập nhật: 05/10/2022 09:15
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 65,500 ▲100K 66,500 ▲100K
SJC 5c 65,500 ▲100K 66,520 ▲100K
SJC 2c, 1C, 5 phân 65,500 ▲100K 66,530 ▲100K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 52,600 ▲100K 53,600 ▲100K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 52,600 ▲100K 53,700 ▲100K
Nữ Trang 99.99% 52,400 ▲100K 53,200 ▲100K
Nữ Trang 99% 51,373 ▲99K 52,673 ▲99K
Nữ Trang 68% 34,330 ▲68K 36,330 ▲68K
Nữ Trang 41.7% 20,337 ▲42K 22,337 ▲42K
Cập nhật: 05/10/2022 09:15

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,134.60 15,287.47 15,779.48
CAD 17,075.22 17,247.70 17,802.80
CHF 23,453.28 23,690.18 24,452.62
CNY 3,289.14 3,322.37 3,429.81
DKK - 3,097.85 3,216.80
EUR 22,864.83 23,095.79 24,144.42
GBP 26,379.63 26,646.09 27,503.66
HKD 2,965.91 2,995.87 3,092.28
INR - 292.33 304.05
JPY 160.63 162.25 170.05
KRW 14.41 16.01 17.55
KWD - 76,945.59 80,029.72
MYR - 5,089.07 5,200.58
NOK - 2,197.70 2,291.23
RUB - 357.87 484.99
SAR - 6,339.10 6,593.19
SEK - 2,123.46 2,213.83
SGD 16,269.79 16,434.13 16,963.04
THB 557.55 619.50 643.28
USD 23,720.00 23,750.00 24,030.00
Cập nhật: 05/10/2022 09:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 15,272 15,372 15,922
CAD 17,404 17,504 18,054
CHF 23,907 24,012 24,812
CNY - 3,316 3,426
DKK - 3,152 3,282
EUR #23,411 23,436 24,546
GBP 26,943 26,993 27,953
HKD 2,967 2,982 3,117
JPY 162.35 162.35 170.9
KRW 15.01 15.81 18.61
LAK - 0.74 1.69
NOK - 2,241 2,321
NZD 13,574 13,657 13,944
SEK - 2,147 2,257
SGD 16,324 16,424 17,024
THB 583.38 627.72 651.38
USD #23,720 23,740 24,020
Cập nhật: 05/10/2022 09:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 23,750 23,750 24,030
USD(1-2-5) 23,527 - -
USD(10-20) 23,703 - -
GBP 26,596 26,757 27,738
HKD 2,980 3,001 3,086
CHF 23,636 23,778 24,515
JPY 161.42 162.4 169.68
THB 601.92 608 663.33
AUD 15,282 15,374 15,888
CAD 17,214 17,318 17,859
SGD 16,364 16,463 16,941
SEK - 2,153 2,223
LAK - 1.11 1.42
DKK - 3,120 3,221
NOK - 2,223 2,295
CNY - 3,303 3,412
RUB - 368 472
NZD 13,514 13,595 13,917
KRW 15.01 - 17.57
EUR 23,137 23,200 24,199
TWD 680.8 - 772.86
MYR 4,812.32 - 5,280.02
Cập nhật: 05/10/2022 09:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 23,720.00 23,730.00 24,030.00
EUR 23,399.00 23,413.00 24,350.00
GBP 26,781.00 26,943.00 27,621.00
HKD 2,984.00 2,996.00 3,089.00
CHF 23,941.00 24,037.00 24,695.00
JPY 163.32 163.48 170.16
AUD 15,146.00 15,207.00 15,794.00
SGD 16,511.00 16,577.00 16,962.00
THB 618.00 620.00 654.00
CAD 17,374.00 17,444.00 17,860.00
NZD 0.00 13,420.00 13,915.00
KRW 0.00 16.14 18.52
Cập nhật: 05/10/2022 09:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 23.742 23.782 24.037
AUD 15.233 15.333 15.991
CAD 17.269 17.469 18.126
CHF 24.074 24.174 24.839
EUR 23.434 23.534 24.349
GBP 26.985 27.035 27.751
JPY 163,6 164,6 171,17
SGD 16.476 16.576 17.185
Cập nhật: 05/10/2022 09:15