Gò Đống Đa: Nấm mồ khổng lồ hay gò tự nhiên?

08:04 | 05/08/2012

|
(Petrotimes) - Cuộc tranh luận gay gắt trong giới khoa học xã hội về đáp án Gò Đống Đa thực chất là gò tự nhiên hay là gò xác giặc Mãn Thanh xâm lược lại một lần nữa được xới lên. Cuộc tranh luận ấy chỉ được xới lên khi có một doanh nghiệp hảo tâm sẵn sàng đứng ra đầu tư để trùng tu tôn tạo Công viên văn hóa Đống Đa.

Vấn đề là, phương án trùng tu, tôn tạo lại phụ thuộc vào bài toán khó giải nêu trên. Các nhà sử học, các chuyên gia địa chất đầu ngành đã vào cuộc bằng những khảo cứu và kinh nghiệm nhiều năm của họ. Chúng tôi đã gặp nhiều người, nghe lý giải với nhiều chiều đáp án khác nhau và cũng đã có đáp án riêng của mình.

Bài 1: Gò Đống Đa là nấm mồ khổng lồ

Từ một dự án văn hóa

Trước hết, phải nói rằng, việc Công ty CP Xuất nhập khẩu Tổng hợp Hà Nội (Geleximco) đứng ra làm chủ đầu tư dự án trùng tu, tôn tạo Công viên văn hóa Đống Đa là một việc làm vô cùng cần thiết và rất đáng được biểu dương. Người dân Hà Nội hầu như ai cũng biết rằng, khu vực Gò Đống Đa gồm hai phần, di tích Gò Đống Đa và khu Công viên văn hóa Đống Đa. Di tích Gò Đống Đa có ý nghĩa quan trọng về mặt lịch sử. Quần thể di tích này được xem là biểu tượng tinh thần quật cường của dân tộc. Trở ngược lại dòng sự kiện, Gò Đống Đa được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa quốc gia năm 1962, có diện dích hơn 6.000m2. Trên gò từng có đền Trung Liệt, thờ những nhân vật lịch sử có công lớn với đất nước như: Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu... nhưng đã bị phá hủy, chỉ còn dấu tích nền móng.

Gò Đống Đa

Phần diện tích dành làm khu vui chơi sau nhiều năm dãi dầu mưa nắng nay đã trở nên nhếch nhác và bụi bặm. Trên diện tích không nhỏ hướng phố Đặng Tiến Đôngluôn tấp nập, nhộn nhịp mấy quán cà phê. Khách đến những quán này họ dựng xe bừa bãi trong khu vực trồng cây, chắn cả lối đi khiến khách tham quan đến đây phải quay lại hoặc đi vòng ra phía ngoài. Trong công viên vắng vẻ, nhiều ghế đá vỡ, gãy nằm chỏng chơ phủ bụi và rêu mọc xanh rì. Một số đèn cao áp dù có bóng nhưng… không sáng! Cổng sau của công viên biến thành điểm rửa xe ôtô, xe máy. Ôtô đỗ thành hàng dài, nước rửa xe bắn tung tóe, tràn cả ra đường khiến cho khu vực này luôn luôn lầy lội. Đi sâu vào bên trong, khu nhà bảo tàng trưng bày các hiện vật về Vua Quang Trung đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Trong khu nhà, trên các hiện vật bụi phủ dầy đến hàngcm, nhiều chỗ đã bị mối mọt…

Nhiều lần đến đây, cảm giác chung của tôi là thấy điều gì đó tiêng tiếc trước khung cảnh u ám của một di tích lịch sử mà đằng sau nó là cả một pho lịch sử hào hùng của dân tộc. Chính vì thế, việc có doanh nghiệp đứng ra đầu tư để tôn tạo khu di tích này là một cơ hội để biến đổi bộ mặt cho quận Đống Đa nói riêng và TP Hà Nội nói chung, tạo ra điểm vui chơi giải trí cho người dân trong bối cảnh khu vui chơi ngày càng hiếm.

Để chuẩn bị triển khai dự án, UBND quận Đống Đa đã phối hợp Viện Bảo tồn Di tích (Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch) tổ chức hội thảo lấy ý kiến các nhà khoa học nhằm tìm phương án tu bổ tối ưu. Viện Bảo tồn Di tích và chủ đầu tư dự án đã đưa ra hai phương án tôn tạo. Phương án thứ nhất, phục dựng đền Trung Liệt, mở rộng và cải tạo lối vào di tích hiện nay, dựng lại cổng vào, tôn tạo sân phía trước gò thành sân lễ hội. Khu vực công viên sẽ giữ nguyên tượng đài nhưng quy hoạch lại cây xanh, cảnh quan cho phù hợp với tính chất khu di tích. Phương án thứ hai, đối với khu vực gò, sẽ xây một lầu bát giác để gợi nhớ dấu tích đền Trung Liệt. Khu vực công viên sẽ tu bổ lại tượng Vua Quang Trung (hiện bằng chất liệu bê-tông) bằng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến, di chuyển các phù điêu cho phù hợp với quy hoạch mới, tôn tạo lại cổng phía đường Tây Sơn thành cổng chính. Một phương án khác cũng được đề ra tương tự với phương án nêu trên, nhưng điểm khác biệt là di chuyển Tượng đài Quang Trung - Nguyễn Huệ đến vị trí phù hợp hơn.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là những nội dung trong dự án đưa ra mà thôi. Nó đã dựa trên những đánh giá về tầm mức lịch sử mà các nhà khoa học đưa ra suốt một thời gian qua. Khi chiếu rọi sự thật lịch sử bằng những luận chứng và chứng cứ khoa học khác thì có người lại cho rằng, nếu dự án đi theo hướng này, sẽ là một sai lầm lịch sử. Vậy, sự thật ấy nằm ở đâu và những luồng ý kiến tranh cãi là như thế nào?!

Gò Đống Đa là nấm mồ khổng lồ?

Không phỏng đoán mơ hồ, không nghe ngóng tin đồn, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm linh, TS Vũ Văn Bằng, Phó viện trưởng Viện Công nghệ Nước và Môi trường đã khẳng định điều này qua những chứng cứ vật lý rất dị biệt của ông. TS Bằng không phải là nhà sử học, ông cũng không mấy quan tâm đến cuộc tranh cãi này. Ông khẳng định điều đó vì Gò Đống Đa liên quan đến hài cốt và chiếc máy đo “tia đất” do ông chế tạo ra là để tìm hài cốt. Cũng phải nói thêm rằng, với lý thuyết vật lý và chiếc máy đo tia đất của mình, TS Bằng đã làm cho nhiều người kinh ngạc bởi khả năng phát hiện ra hài cốt rất chính xác chỉ bằng cách đo địa từ trên mặt đất.

TS Bằng cho biết: “Gò Đống Đa là một núi xương. Và không chỉ riêng Gò Đống Đa, cả thủ đô Hà Nội cũng chính là một nghĩa địa cổ khổng lồ. Tôi từng khảo sát về địa điểm này rất nhiều lần”.

Con đường đi dạo vòng quanh chân Gò Đống Đa đã xuống cấp

Trong buổi thực nghiệm đo đạc tại Gò Đống Đa gần đây nhất, số liệu cụ thể thu được như sau: Về xạ khí (sau khi đo bằng máy đo phóng xạ IF – 99A của Nhật): nằm ở mức cho phép 17/9 MSv/giờ (Micro Sievert); Về mức từ trường (đo bằng máy đo địa từ BPT-2000 của Đức): trong gò mức từ cao hơn, đạt mức 31.215nT so với phía bên ngoài gò chỉ có mức 27.150nT; Về tia đất (sau khi đo bằng máy địa bức xạ BXT09 do TS Vũ Văn Bằng sáng chế và đã được cấp bằng công nhận) đã phát hiện ra một dòng sông cổ ở phía dưới gò. Theo TS Bằng, dòng sông cổ này có chiều rộng khoảng 28m, nằm ở độ sâu khoảng 20m so với mặt đất. Hướng chảy của dòng sông theo hướng từ tây sang đông (từ phía sau chảy ra phía trước gò) và đi qua trung tâm Gò Đống Đa, hơi lệch một chút sang phía nam.

Theo đó, toàn bộ Gò Đống Đa nằm trên một đống xương khổng lồ với mật độ dày đặc và tràn ra 2 phía đông và tây (là hướng chảy của dòng sông cổ). Khoảng cách hài cốt tràn ra so với Gò ở phía tây kéo dài tới 30m, rộng khoảng 13m (sát với khu vực tượng đài Vua Quang Trung). Trong khi đó, tại phía đông khoảng cách hài cốt tràn ra so với gò khoảng 35m, rộng khoảng 20m (sát với mặt đường Tây Sơn).

Ngoài ra còn có một vị trí tập trung nhiều hài cốt nằm ở phía bắc - tây bắc của gò với bề rộng khoảng 10m và kéo dài vào khu dân cư. Vị trí này được xác định là một ngòi lạch cổ nối liền với dòng sông đã nói trên. Theo TS Vũ Văn Bằng, số lượng hài cốt nằm ở dưới gò rất nhiều, tập trung thành từng đống và xếp chồng lên nhau, rất khó đếm. Tổng hợp tất cả các chỉ số sau khi đã khảo sát nói trên cho thấy, đây là khu vực có độ bức xạ và từ trường rất mạnh, vượt xa nhiều so với mức bình thường. Cũng có thể gọi là “đất dữ”, nếu dùng để xây nhà ở thì không phù hợp.

Khẳng định này của TS Bằng dường như ứng với những ghi nhận của một số người dân. Bà Phạm Thị Méo (72 tuổi, trú tại phường Quang Trung, Đống Đa), bán nước tại cổng Di tích Gò Đống Đa cho biết: “Theo các cụ nhiều đời trong làng kể lại thì đây là một trong những nơi chiến trường ác liệt trong trận Vua Quang Trung đại phá quân Thanh. Sau chiến thắng, xác giặc được đắp chôn thành các gò đống. Gò Đống Đa chỉ là một trong số đó”.

Việc một số khu vực xung quanh Gò Đống Đa khi đào lên phát hiện có rất nhiều hài cốt thì bà Méo khẳng định hoàn toàn có thật và bà từng chứng kiến. “Cách đây khoảng hơn chục năm, khu vực phía gần cổng Trường đại học Công đoàn có đội thợ thi công lắp ống nước. Khi đào sâu xuống dưới đất khoảng hơn 2m thì thấy rất nhiều hài cốt ở đấy. Một số hài cốt được bỏ vào tiểu sành, còn lại phần lớn đều nằm la liệt, chồng chất lên nhau theo kiểu chết và vùi chôn tập thể. Người ta phải dùng xẻng để xúc và bỏ vào các túi nilon lớn rồi chuyển đi, phải 2-3 ngày sau mới dọn dẹp hết số xương ấy để thi công tiếp. Chính tôi là người đã mua vàng hương đem đến để cho đội thợ làm lễ cúng trước khi chuyển xương đi nên tôi biết rất rõ việc này”.

Và nếu khẳng định như TS Bằng thì Gò Đống Đa là nhân tạo. Ngoài ra, việc dựng tượng đài hoặc xây Đền thờ Quang Trung trên đỉnh gò, TS Vũ Văn Bằng khuyến cáo không nên. Ông giải thích: “Nếu xây miếu thờ hay Tượng đài Vua Quang Trung trên gò đồng nghĩa với việc mỗi khi lễ hội hay du khách đến thăm viếng đều phải tiến hành ở trên gò. Nơi đây có độ xạ khí và từ trường rất mạnh, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của con người”.

Thông tin ít ỏi

Song song với khẳng định của TS Bằng, để tìm hiểu về vấn đề này chúng tôi tìm đến hỏi chuyện các cụ bô lão ở làng Thịnh Liệt, Đồng Quang xưa (nay là vùng Thái Hà, Hoàng Cầu, Thái Thịnh, Chùa Bộc...). Những thông tin đưa ra cũng chỉ là thông tin theo kiểu truyền miệng do người đời trước kể lại. Chính vì thế thông tin về Gò Đống Đa là rất ít.

Tiểu thương mở cả quán ăn trong khuôn viên Gò Đống Đa

Theo các cụ cao niên ở làng Thịnh Liệt thì nơi tọa ngự của Gò Đống Đa ngày nay xưa kia thuộc đất làng Khương Thượng, huyện Quảng Đức, phủ Thuận Thiên. Đây cũng là một trong các chiến trường trong trận Hoàng đế Quang Trung đại phá quân Thanh vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789). Sau chiến thắng như vũ bão, quân Tây Sơn giải phóng kinh thành Thăng Long, khu vực Đống Đa xác giặc chết ngổn ngang khắp nơi. Vua Quang Trung cho thu nhặt lại, xếp thành 12 gò, sau gọi là “Kình nghê quán” (gò chôn xác giặc dữ như cá kình, cá nghê ngoài biển). 12 gò xưa nằm rải rác từ làng Thịnh Quang đến làng Nam Đồng và ở trong khu vực có tên là “xứ Đống Đa”. Vì trên các gò có nhiều cây đa mọc lên um tùm nên dân gian quen gọi tên là Gò Đống Đa. Điều này còn được ghi lại khá rõ trong bài thơ “Loa Sơn điếu cổ” (Viếng núi Ốc) của thi sĩ đương thời Ngô Ngọc Du:

“Thành Nam thập nhị kình nghê quán
Chiếu điện anh hùng đại võ công”

(Mười hai gò xác phía nam thành - Ngời sáng chiến công bậc anh hùng)

Đến năm 1851, do mở đường, mở chợ, quá trình đào xẻ thấy có nhiều hài cốt giặc, người dân đã thu nhặt chôn vào một hố to, sau đó đắp cao lên thành gò cạnh núi Ốc (Loa Sơn). Dần dần, ngôi gò mới này được đắp rộng và cao thêm, dính liền vào núi Ốc và cũng được gọi là Gò Đống Đa. Sau khi chiếm thành Hà Nội, thực dân Pháp đã bạt đi tất cả 12 chiếc gò, chỉ còn lại gò ở núi Ốc. Do đó, Gò Đống Đa hiện nay thực chất là chiếc gò thứ 13 còn sót lại.

Trong nhiều bài viết, Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc đã từng cho rằng, dưới thời Vua Minh Mạng, ông Đặng Văn Hòa - Tổng đốc Hà Nội xưa, khi mở mang vùng Nam Đồng, Thịnh Quang đã đào được rất nhiều hài cốt. Ông cho quân lính khiêng những hài cốt đào được đắp lên một gò cũ đã tàn. “Nguyên sơ ở vùng đó có 12 gò và gò còn lại là gò thứ 13. Đó là gò duy nhất may mắn giữ được cho đến ngày nay. Ông Hòa từng cho xây dựng một ngôi chùa bên phía đông của gò, gọi là chùa Đồng Quang. Sở dĩ có tên là Đồng Quang vì xây trên địa phận đất chung của hai làng Nam Đồng - Thịnh Quang. Cạnh ngôi chùa này trước kia còn có một nghĩa địa chung, trong nghĩa địa có một bàn thờ gọi là “nghĩa chủng” - nơi thờ cúng các cô hồn vất vưởng, không nơi bám víu.

Hằng năm, đến ngày 5 tháng Giêng, người dân hai làng Nam Đồng, Thịnh Quang vẫn thường tổ chức giỗ trận - tức giỗ những người bị tử trận. Có ý kiến cho rằng, người tử trận ở đây là quân Thanh, người làm giỗ cho họ là những người đã làm nên chiến thắng Kỷ Dậu, điều đó thể hiện tấm lòng khoan dung, độ lượng của một dân tộc vốn ưa chuộng hòa bình.

Khu Tượng đài Quang Trung và Công viên văn hóa Đống Đa đã được xây dựng tại khu đất bên cạnh gò lịch sử này chính vào dịp kỷ niệm 200 năm Chiến thắng Đống Đa. Quần thể này trông ra phố mang tên Đặng Tiến Đông, người được cho là chỉ huy trận đánh đồn Khương Thượng và đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa.

Có thể nói rằng, TS Vũ Văn Bằng hay những nhân chứng sống còn lại ở một chừng mực nào đó đều có tính thuyết phục riêng. Nó dựa trên những khảo cứu khoa học và những chắp nối logic rất đáng để lắng nghe. Nó liên quan trực tiếp đến tinh thần bản dự án mà nhà đầu tư, các cơ quan chuyên môn, quận Đống Đa và TP Hà Nội đang ngày đêm trăn trở để tìm ra phương án khả thi nhất. Tuy nhiên, vẫn còn đó những ý kiến hoàn toàn ngược lại những ý kiến nêu trên và cũng rất xác đáng, thuyết phục mà chúng tôi sẽ đề cập đến ở bài sau.

Phóng sự của Vũ Minh Tiến

(Năng lượng Mới số 143, ra thứ Sáu ngày 3/8/2012)