Vài suy nghĩ về mô hình kinh tế trọng cung đối với nền kinh tế nước ta hiện nay

07:21 | 24/02/2024

68,870 lượt xem
Theo dõi PetroTimes trên
|
(PetroTimes) - Kinh tế trọng cung nhấn mạnh tầm quan trọng của phía cung trong phát triển kinh tế và tăng trưởng dựa vào cơ chế thị trường, coi đây là cơ chế phân bổ hiệu quả giữa các nguồn lực xã hội. Mô hình kinh tế trọng cung áp dụng hiệu quả ở nhiều quốc gia phát triển. Đối với Việt Nam, cần triển khai đồng bộ các giải pháp để thúc đẩy kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững, trong đó, việc hoàn thiện chính sách pháp luật về tài chính đóng vai trò quan trọng. Petrotimes trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của TS. Hồ Đức Phớc - Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính về vấn đề này.
Vài suy nghĩ về mô hình kinh tế trọng cung đối với nền kinh tế nước ta hiện nay
TS. Hồ Đức Phớc - Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính. Ảnh: Hữu Thọ

Mô hình kinh tế trọng cung và kinh nghiệm một số quốc gia

Vào giữa những năm 1970, thuật ngữ “kinh tế trọng cung” bắt đầu xuất hiện đối lập với các chính sách kinh tế trọng cầu của Keynes.

Kinh tế trọng cung nhấn mạnh tầm quan trọng của phía cung trong phát triển kinh tế và tăng trưởng dựa vào cơ chế thị trường, coi đây là cơ chế phân bổ hiệu quả giữa các nguồn lực xã hội.

Mô hình kinh tế trọng cung xoay quanh việc khuyến khích nhà sản xuất mở rộng quy mô, thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động, tăng tính thị trường của nền kinh tế, giảm can thiệp của nhà nước đối với thị trường, tháo gỡ rào cản đầu tư, thực hiện cải cách chương trình an sinh xã hội, khuyến khích đầu tư cung cấp hàng hóa công cộng.

Mô hình kinh tế trọng cung áp dụng hiệu quả ở các quốc gia Anh, Mỹ, Pháp, Hàn Quốc từ những năm 1970-2009.

Sau đại dịch Covid- 19, nền kinh tế toàn cầu có nhiều rủi ro về suy thoái, nguồn lực giảm đặt ra yêu cầu nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững. Với mô hình kinh tế trọng cung hiện đại (Modern Supply Side Economis- MSSE), Mỹ đã tích cực thực hiện mô hình kinh tế trọng cung như đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng đường bộ, đường sắt, viễn thông, cảng biển, CNTT, năng lượng sạch, đầu tư khoa học công nghệ, tăng cường đầu tư nâng cao nguồn nhân lực, giáo dục.

Kết quả tăng trưởng GDP năm 2023 của Mỹ tương đối ổn định; Quý I, Quý II: 2,1%; Quý III, IV: 5,2% hơn mức dự báo là 5% hoặc đối với Trung Quốc.

Tại Trung Quốc, cuối năm 2015, nước này tập trung cải cách cơ cấu phía cung, tập trung sản xuất, tăng năng suất lao động, cải tiến công nghệ.

Năm 2016, Trung Quốc đóng cửa các nhà máy thép và các mỏ than lạc hậu, giảm hàng tồn kho, ban hành chính sách ưu đãi thuế, phát triển doanh nghiệp, áp dụng công nghệ cao trong lĩnh vực năng lượng, vận tải, sản xuất công nghiệp.

Một số sản phẩm mới như xe điện, tua bin gió, thiết bị hàng không vũ trụ, chất bán dẫn, công nghệ xây dựng công trình đường trên cao, công trình kiến trúc cao tầng, đường sắt cao tốc… các chính sách này đã và đang đưa Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới.

Hoàn thiện chính sách pháp luật về tài chính, thúc đẩy kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững

Trên cơ sở kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp để thúc đẩy kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững. Trong đó, việc hoàn thiện chính sách pháp luật về tài chính đóng vai trò quan trọng, tập trung và nhóm các giải pháp như sau:

Thứ nhất, quản lý điều hành chính sách tài khóa hợp lý, hiệu quả: cần hoàn thiện đồng bộ chính sách thuế (Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài sản, …) gắn cơ cấu nguồn thu ngân sách với phương châm tăng tính chủ đạo ngân sách trung ương, tăng tính chủ động của ngân sách địa phương.

Đặc biệt chú trọng ưu đãi thuế đối với các dự án áp dụng công nghệ cao, dự án đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch; hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp áp dụng công nghệ cao phát triển.

Ưu tiên nguồn lực để phát triển cơ sở hạ tầng, chú trọng hạ tầng giao thông đường bộ, đường sắt cao tốc, sân bay, cảng biển hiện đại, cửa khẩu gắn với hải quan thông minh, logistic; phát triển công nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển giáo dục, đào tạo y tế, quan tâm an sinh xã hội.

Thứ hai, xây dựng, quản lý thị trường tài chính minh bạch, đúng đắn, bền vững: tập trung phát triển mạnh mẽ, minh bạch, bền vững, ổn định và là kênh huy động trung và dài hạn cho nền kinh tế, thị trường vốn liên thông quốc tế nhằm huy động nguồn vốn lãi suất thấp, thời gian vay dài, điều kiện ưu đãi các dự án trong nước phát triển nhanh, hiệu quả từ các ngân hàng, quỹ tài chính quốc tế cho các dự án trong nước thúc đẩy kinh tế phát triển.

Thứ ba, tập trung cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước (DNNN), đồng thời phát triển doanh nghiệp tư nhân theo hướng hiệu quả, tăng năng lực cho nền kinh tế. Sửa đổi Luật Quản lý sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp và các bộ luật có liên quan, tạo môi trường thu hút đầu tư thuận lợi và cạnh tranh, bình đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp, không phân biệt đối xử.

Tăng cường đầu tư có hiệu quả vốn vào DNNN và các ngân hàng thương mại nhà nước nhằm đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Tích cực cổ phần hóa, bán vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước nhằm thu hút tư nhân vào đầu tư quản trị các DNNN sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn.

Tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi để thu hút đầu tư, giúp doanh nghiệp cổ phần, tư nhân phát triển, tiếp cận khoa học công nghệ, thu hút nhân lực trình độ cao, đáp ứng hiệu quả gắn với áp dụng công nghệ cao nguồn vốn để sản xuất kinh doanh hiệu quả. Khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu sạch, năng lượng sạch, nguồn gốc xuất xứ rõ, khai thác tài nguyên tiết kiệm, áp dụng công nghệ cao để tạo ra sản phẩm chất lượng cao, nâng cao giá trị, thúc đẩy xuất khẩu.

Thứ tư, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trẻ tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút nhân tài nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ năm, hoàn thiện chính sách, đặc biệt chính sách tài chính để phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt hạ tầng năng lượng sạch, hạ tầng giao thông hiện đại, chống biến đổi khí hậu, hạ tầng công nghệ thông tin…

Thúc đẩy sáng tạo, áp dụng khoa học công nghệ hiện đại, tăng năng suất lao động, khuyến khích doanh nghiệp phát triển, tăng năng lực và phát triển nguồn nhân lực tốt.

Khi chúng ta có 1 nền kinh tế mạnh, phát triển bền vững hệ thống doanh nghiệp có năng lực tốt, sức cạnh tranh cao thì sản phẩm của chúng ta sẽ có đầy đủ điều kiện để tham gia cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Xuất nhập khẩu trở thành động lực phát triển kinh tế.

TS. Hồ Đức Phớc - Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính

Doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò tiên phong phát triển kinh tếDoanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò tiên phong phát triển kinh tế
Tháo “nút thắt”, tạo động lực cho doanh nghiệp nhà nước phát triển bền vữngTháo “nút thắt”, tạo động lực cho doanh nghiệp nhà nước phát triển bền vững
Tháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc phát sinh trong phát triển các dự án nhiệt điện khíTháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc phát sinh trong phát triển các dự án nhiệt điện khí
Thủ tướng: Chúng ta phải lắng nghe tiếng nói doanh nghiệp, đặt mình vào vị trí doanh nghiệpThủ tướng: Chúng ta phải lắng nghe tiếng nói doanh nghiệp, đặt mình vào vị trí doanh nghiệp
Thủ tướng: 6 quan điểm, 12 nhiệm vụ để DNNN phát huy vai trò dẫn dắt, tiên phong, mở đườngThủ tướng: 6 quan điểm, 12 nhiệm vụ để DNNN phát huy vai trò dẫn dắt, tiên phong, mở đường
Doanh nghiệp nhà nước cần làm những việc lớn, việc khó, việc mới để tạo lực cho phát triển kinh tếDoanh nghiệp nhà nước cần làm những việc lớn, việc khó, việc mới để tạo lực cho phát triển kinh tế

  • top-right-banner-chuyen-muc-pvps
  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • nang-luong-cho-phat-trien
  • pvoil-duong-xa-them-gan
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 81,200 ▲600K 84,500 ▲1400K
AVPL/SJC HCM 81,200 ▲600K 84,500 ▲1300K
AVPL/SJC ĐN 82,200 ▲1600K 84,500 ▲1400K
Nguyên liệu 9999 - HN 74,800 ▲800K 76,000 ▲600K
Nguyên liệu 999 - HN 74,700 ▲800K 75,900 ▲600K
AVPL/SJC Cần Thơ 81,200 ▲600K 84,500 ▲1400K
Cập nhật: 15/04/2024 10:45
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 74.700 ▲400K 76.600 ▲350K
TPHCM - SJC 82.400 ▲1800K 84.600 ▲1500K
Hà Nội - PNJ 74.700 ▲400K 76.600 ▲350K
Hà Nội - SJC 82.400 ▲1800K 84.600 ▲1500K
Đà Nẵng - PNJ 74.700 ▲400K 76.600 ▲350K
Đà Nẵng - SJC 82.400 ▲1800K 84.600 ▲1500K
Miền Tây - PNJ 74.700 ▲400K 76.600 ▲350K
Miền Tây - SJC 82.400 ▲1600K 84.600 ▲1500K
Giá vàng nữ trang - PNJ 74.700 ▲400K 76.600 ▲350K
Giá vàng nữ trang - SJC 82.400 ▲1800K 84.600 ▲1500K
Giá vàng nữ trang - Đông Nam Bộ PNJ 74.700 ▲400K
Giá vàng nữ trang - SJC 82.400 ▲1800K 84.600 ▲1500K
Giá vàng nữ trang - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 74.700 ▲400K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 74.600 ▲400K 75.400 ▲400K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 55.300 ▲300K 56.700 ▲300K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 42.860 ▲230K 44.260 ▲230K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 30.120 ▲170K 31.520 ▲170K
Cập nhật: 15/04/2024 10:45
AJC Mua vào Bán ra
Trang sức 99.99 7,455 ▲30K 7,680 ▲30K
Trang sức 99.9 7,445 ▲30K 7,670 ▲30K
NL 99.99 7,450 ▲30K
Nhẫn tròn k ép vỉ T.Bình 7,430 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 7,520 ▲30K 7,710 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 7,520 ▲30K 7,710 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 7,520 ▲30K 7,710 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 8,230 ▲110K 8,450 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 8,230 ▲110K 8,450 ▲100K
Miếng SJC Hà Nội 8,230 ▲110K 8,450 ▲100K
Cập nhật: 15/04/2024 10:45
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L, 1KG 82,700 ▲2100K 84,900 ▲1800K
SJC 5c 82,700 ▲2100K 84,920 ▲1800K
SJC 2c, 1C, 5 phân 82,700 ▲2100K 84,930 ▲1800K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 74,600 ▲300K 76,500 ▲300K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.3 chỉ, 0.5 chỉ 74,600 ▲300K 76,600 ▲300K
Nữ Trang 99.99% 74,500 ▲300K 75,800 ▲300K
Nữ Trang 99% 73,050 ▲298K 75,050 ▲298K
Nữ Trang 68% 49,199 ▲204K 51,699 ▲204K
Nữ Trang 41.7% 29,262 ▲125K 31,762 ▲125K
Cập nhật: 15/04/2024 10:45

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,800.31 15,959.91 16,472.29
CAD 17,735.28 17,914.42 18,489.55
CHF 26,717.48 26,987.35 27,853.76
CNY 3,388.49 3,422.72 3,533.14
DKK - 3,508.73 3,643.18
EUR 25,979.26 26,241.68 27,404.35
GBP 30,388.02 30,694.97 31,680.41
HKD 3,114.43 3,145.89 3,246.89
INR - 298.90 310.86
JPY 158.15 159.75 167.39
KRW 15.65 17.39 18.97
KWD - 81,045.31 84,287.28
MYR - 5,191.17 5,304.51
NOK - 2,256.16 2,352.00
RUB - 255.41 282.75
SAR - 6,657.97 6,924.30
SEK - 2,259.73 2,355.73
SGD 17,936.02 18,117.19 18,698.83
THB 602.72 669.69 695.35
USD 24,840.00 24,870.00 25,210.00
Cập nhật: 15/04/2024 10:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 16,000 16,100 16,550
CAD 17,976 18,076 18,626
CHF 26,979 27,084 27,884
CNY - 3,425 3,535
DKK - 3,530 3,660
EUR #26,245 26,280 27,540
GBP 30,858 30,908 31,868
HKD 3,126 3,141 3,276
JPY 159.85 159.85 167.8
KRW 16.32 17.12 19.92
LAK - 0.88 1.24
NOK - 2,266 2,346
NZD 14,661 14,711 15,228
SEK - 2,259 2,369
SGD 17,980 18,080 18,810
THB 629.15 673.49 697.15
USD #24,834 24,914 25,254
Cập nhật: 15/04/2024 10:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 24,830.00 24,860.00 25,180.00
EUR 26,104.00 26,209.00 27,377.00
GBP 30,482.00 30,666.00 31,615.00
HKD 3,129.00 3,142.00 3,244.00
CHF 26,835.00 26,943.00 27,771.00
JPY 158.96 159.60 166.90
AUD 15,875.00 15,939.00 16,426.00
SGD 18,036.00 18,108.00 18,640.00
THB 664.00 667.00 694.00
CAD 17,833.00 17,905.00 18,427.00
NZD 14,595.00 15,085.00
KRW 17.32 18.86
Cập nhật: 15/04/2024 10:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 24870 24920 25260
AUD 16040 16090 16495
CAD 18017 18067 18472
CHF 27220 27270 27682
CNY 0 3427.8 0
CZK 0 1020 0
DKK 0 3490 0
EUR 26450 26500 27002
GBP 31032 31082 31535
HKD 0 3115 0
JPY 161.08 161.58 166.09
KHR 0 5.6713 0
KRW 0 18.4 0
LAK 0 1.0238 0
MYR 0 5400 0
NOK 0 2330 0
NZD 0 14699 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2360 0
SGD 18265 18265 18622
THB 0 641.6 0
TWD 0 777 0
XAU 8190000 8190000 8370000
XBJ 6000000 6000000 6550000
Cập nhật: 15/04/2024 10:45