Phát triển nông nghiệp bền vững theo phương châm “tạo ra nhiều hơn từ ít hơn”

11:00 | 09/06/2019

|
(PetroTimes) - “Tạo ra nhiều hơn từ ít hơn nghĩa là cần ứng dụng khoa học kỹ thuật, sử dụng giống mới, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, sử dụng ít tài nguyên hơn mà vẫn tạo ra được sản phẩm có giá trị mới cao hơn” - TS. Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp Nông thôn giải thích.

Một thực tế là Việt Nam hiện có khoảng 9 triệu hộ nông dân, nhưng mỗi hộ chỉ canh tác, sản xuất khoảng 0,5ha đất. Điều này rất khó để tạo thành chuỗi liên kết sản xuất - tiêu dùng đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm.

Trong khi đó, nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới ngày càng đòi hỏi sản phẩm nông lâm thủy sản phải có chất lượng cao hơn, không những về vệ sinh an toàn thực phẩm mà còn đảm bảo về bảo vệ môi trường.

phat trien nong nghiep ben vung theo phuong cham tao ra nhieu hon tu it hon
Cần ứng dụng khoa học kỹ thuật để tạo ra sản phẩm có giá trị mới cao hơn

Thêm vào đó, nông nghiệp Việt Nam cũng chịu nhiều tác động từ biến đổi khí hậu khiến nguồn tài nguyên ngày càng suy giảm, diện tích đất sản xuất ít đi, nguồn nước khan hiếm hơn, xâm nhập mặn, hạn hán...

Để xử lý được một loạt những vấn đề đó, đưa nông nghiệp thành động lực cho tăng trưởng kinh tế cần có những giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững theo phương châm “tạo ra nhiều hơn từ ít hơn”.

Nghĩa là cần ứng dụng khoa học kỹ thuật, sử dụng giống mới, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, sử dụng ít tài nguyên hơn mà vẫn tạo ra được sản phẩm có giá trị mới cao hơn.

Song song đó, phải chú trọng tới việc giảm tổn thất sau thu hoạch, bảo quản tốt hơn, tăng cường chế biến để nâng cao giá trị cho nông sản.

Cùng chung nhận định, ông Kimura Yoshihisa, chuyên gia JICA tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cho rằng, thực trạng chung của sản xuất nông nghiệp Việt Nam hiện nay là sản xuất với quy mô quá nhỏ lẻ, manh mún nên năng suất thấp, giá trị gia tăng thấp.

Do đó, nông dân ít có lợi nhuận, không thể đầu tư vào trang thiết bị, máy móc phục vụ sản xuất. Bên cạnh đó, nhiều diện tích đất nông nghiệp bị tàn phá, bỏ hoang, phát sinh nhiều côn trùng gây bệnh, ảnh hưởng tới toàn bộ khu vực.

Vì vậy, để phát triển nông nghiệp bền vững, Việt Nam cần giải quyết được vấn đề nâng cao năng suất và bố trí lại đất nông nghiệp; trong đó, các thửa ruộng nhỏ lẻ cần được dồn lại và hợp nhất nhằm tạo ra hiệu ứng đồng bộ.

Dẫn chứng cụ thể trong sản xuất lúa gạo, việc sản xuất trên cánh đồng lớn có thể rút ngắn được 50% thời gian lao động, nâng quy mô sản xuất của các hộ nông dân lên gấp 2 lần và giảm được khoảng 2/3 chi phí sản xuất so với sản xuất nhỏ lẻ.

PGS.TS Mai Thành Phụng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp Nông nghiệp Việt Nam (VFAEA) cho biết, Nông nghiệp vùng ĐBSCL hằng năm đóng góp khoảng 27% GDP của cả nước, sản xuất hơn 50% tổng sản lượng lương thực, đóng góp hơn 90% lượng gạo xuất khẩu. Kết quả đó là nhờ nông dân tiếp cận và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, liên kết “4 nhà”, xây dựng cánh đồng lớn…

Tuy nhiên, cơ chế, chính sách, những yếu kém nội tại trong quá trình thực hiện mối liên kết “4 nhà” cũng bộc lộ nhiều hạn chế nên hiệu quả chưa như mong muốn. Theo PGS.TS Mai Thành Phụng, trong bối cảnh hiện nay, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị là yêu cầu tất yếu, góp phần nâng cao giá trị và là hướng đi bền vững.

Lý giải vì sao phải sản xuất theo chuỗi và phải truy xuất nguồn gốc, TS. Trần Quốc Nhân, Khoa Nông nghiệp Nông thôn, Trường Đại học Cần Thơ, khẳng định trước hết là do yêu cầu thị trường, nhất là thị trường quốc tế. Nếu hàng hóa không đồng nhất, không đủ số lượng lớn và không truy xuất được nguồn gốc thì các nước nhập khẩu sẽ từ chối, không mua.

Hơn nữa, việc sản xuất theo hợp đồng còn giúp nông dân tiếp cận được kỹ thuật, được nguồn vốn, còn doanh nghiệp thì phát triển được vùng nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu.

Còn theo PGS.TS Dương Hoa Xô, Giám đốc Trung tâm Công nghệ sinh học TP HCM, sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng rất nhiều yếu tố, từ giống, quy trình canh tác đến thời tiết, khí hậu… Do đó, mặt hàng nông sản rất khó đồng nhất, chất lượng sẽ khác nhau nếu sản xuất ở những nơi khác nhau. Nên người tiêu dùng cần truy xuất được nguồn gốc để biết rõ món hàng mình sẽ mua, sẽ ăn.

Tuy nhiên, truy xuất nguồn gốc không thể làm cho từng hộ, mà chỉ có thể làm cho một vùng sản xuất. Vì vậy, nông dân cần phải thay đổi quy trình sản xuất, liên kết sản xuất, làm theo chuỗi…

M.L

phat trien nong nghiep ben vung theo phuong cham tao ra nhieu hon tu it honNông nghiệp hiện vẫn do kinh tế hộ làm chủ đạo
phat trien nong nghiep ben vung theo phuong cham tao ra nhieu hon tu it honPhát triển nông nghiệp sạch phải gắn liền với nguồn vốn tư nhân
phat trien nong nghiep ben vung theo phuong cham tao ra nhieu hon tu it honCỏ Vetiver - chìa khóa phát triển nông nghiệp bền vững

  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • novaland-16-8
  • pvoil-duong-xa-them-gan
  • sao-thai-duong
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 66,100 67,100
AVPL/SJC HCM 66,400 67,100
AVPL/SJC ĐN 66,200 67,100
Nguyên liêu 9999 - HN 51,400 ▼100K 51,600 ▼100K
Nguyên liêu 999 - HN 51,350 ▼100K 51,550 ▼100K
AVPL/SJC Cần Thơ 66,100 67,000
Cập nhật: 20/08/2022 09:00
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 51.500 ▼100K 52.600 ▼100K
TPHCM - SJC 66.200 ▲100K 67.100 ▲100K
TPHCM - Hà Nội PNJ 51.500 ▼100K
Hà Nội - 66.200 67.100 ▲100K 20/08/2022 08:16:47 ▲1K
Hà Nội - Đà Nẵng PNJ 51.500 ▼100K
Đà Nẵng - 66.200 67.100 ▲100K 20/08/2022 08:16:47 ▲1K
Đà Nẵng - Miền Tây PNJ 51.500 ▼100K
Cần Thơ - 66.400 67.200 20/08/2022 08:29:56 ▲1K
Cần Thơ - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 51.500 ▼100K
Giá vàng nữ trang - 51.100 51.900 ▼100K 20/08/2022 08:16:47 ▲1K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 37.680 ▼70K 39.080 ▼70K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 29.110 ▼60K 30.510 ▼60K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.340 ▼40K 21.740 ▼40K
Cập nhật: 20/08/2022 09:00
AJC Mua vào Bán ra
Đồng vàng 99.99 5,160 ▼10K 5,240 ▼10K
Vàng trang sức 99.99 5,075 ▼10K 5,225 ▼10K
Vàng trang sức 99.9 5,065 ▼10K 5,215 ▼10K
Vàng NL 99.99 5,130 ▼10K 5,225 ▼10K
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,600 ▼10K 6,710
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,600 ▼10K 6,700 ▼10K
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,605 ▼10K 6,700 ▼10K
Vàng NT, TT 3A Thái Bình 5,160 ▼20K 5,260 ▼20K
Vàng NT, TT 3A Nghệ An 5,160 ▼30K 5,260 ▼30K
Vàng NT, TT 3A Hà Nội 5,160 ▼10K 5,240 ▼10K
Cập nhật: 20/08/2022 09:00
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 66,200 67,200
SJC 5c 66,200 67,220
SJC 2c, 1C, 5 phân 66,200 67,230
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 51,700 ▼100K 52,600 ▼100K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 51,700 ▼100K 52,700 ▼100K
Nữ Trang 99.99% 51,550 ▼100K 52,200 ▼100K
Nữ Trang 99% 50,383 ▼99K 51,683 ▼99K
Nữ Trang 68% 33,650 ▼68K 35,650 ▼68K
Nữ Trang 41.7% 19,920 ▼41K 21,920 ▼41K
Cập nhật: 20/08/2022 09:00

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,748.36 15,907.44 16,419.96
CAD 17,604.98 17,782.81 18,355.76
CHF 23,818.94 24,059.53 24,834.72
CNY 3,378.08 3,412.20 3,522.67
DKK - 3,113.77 3,233.44
EUR 22,981.75 23,213.89 24,268.73
GBP 27,175.39 27,449.89 28,334.31
HKD 2,907.87 2,937.24 3,031.88
INR - 292.64 304.38
JPY 167.13 168.81 176.93
KRW 15.26 16.96 18.59
KWD - 76,119.78 79,173.55
MYR - 5,170.49 5,283.97
NOK - 2,354.14 2,454.42
RUB - 344.66 467.10
SAR - 6,214.44 6,463.75
SEK - 2,180.13 2,273.00
SGD 16,451.97 16,618.15 17,153.58
THB 579.11 643.46 668.19
USD 23,235.00 23,265.00 23,545.00
Cập nhật: 20/08/2022 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD - 15,785 16,485
CAD - 17,707 18,407
CHF - 23,899 24,849
CNY - 3,363 3,503
DKK - 3,069 3,239
EUR - 22,634 23,924
GBP - 27,130 28,300
HKD - 2,863 3,058
JPY - 166.82 176.37
KRW - 15.52 19.32
LAK - 0.84 1.79
NOK - 2,305 2,425
NZD - 14,192 14,602
SEK - 2,135 2,270
SGD - 16,263 17,063
THB - 641.55 669.55
USD - 23,180 23,620
Cập nhật: 20/08/2022 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 23,265 23,265 23,545
USD(1-2-5) 23,046 - -
USD(10-20) 23,218 - -
GBP 27,283 27,448 28,461
HKD 2,921 2,941 3,025
CHF 23,919 24,063 24,843
JPY 167.85 168.86 176.51
THB 620.52 626.79 684.02
AUD 15,826 15,921 16,450
CAD 17,664 17,770 18,329
SGD 16,507 16,606 17,152
SEK - 2,190 2,262
LAK - 1.18 1.51
DKK - 3,123 3,225
NOK - 2,362 2,440
CNY - 3,384 3,494
RUB - 355 455
NZD 14,353 14,440 14,780
KRW 15.8 - 19.29
EUR 23,156 23,219 24,232
TWD 704.97 - 800.5
MYR 4,891.92 - 5,370.03
Cập nhật: 20/08/2022 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 23,240.00 23,260.00 23,540.00
EUR 23,186.00 23,179.00 24,112.00
GBP 27,376.00 27,541.00 28,202.00
HKD 2,926.00 2,938.00 3,028.00
CHF 24,015.00 24,111.00 24,766.00
JPY 169.14 169.82 173.62
AUD 15,797.00 15,860.00 16,437.00
SGD 16,613.00 16,680.00 17,062.00
THB 634.00 637.00 674.00
CAD 17,773.00 17,844.00 18,268.00
NZD 0.00 14,348.00 14,837.00
KRW 0.00 16.89 18.42
Cập nhật: 20/08/2022 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 23.279 23.310 23.764
AUD 15.836 15.936 16.592
CAD 17.624 17.824 18.484
CHF 24.125 24.225 24.883
EUR 23.182 23.282 24.091
GBP 27.455 27.505 28.220
JPY 168,7 169,7 176,24
SGD 16.546 16.646 17.260
Cập nhật: 20/08/2022 09:00
  • nhien-lieu-bay-cong-nghe-nang-luong-2022
  • pvgas