Giá điện BOT được xác định theo khung mới từ cuối tháng 7
Thông tư có hiệu lực từ ngày 28/7/2026 và được xây dựng nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Điện lực năm 2024 liên quan đến cơ chế hình thành giá điện đối với các dự án BOT. Đối tượng áp dụng gồm chủ đầu tư các nhà máy điện BOT thuộc quy hoạch điện quốc gia nhưng chưa ký hợp đồng mua bán điện, cùng với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các đơn vị liên quan.
Theo quy định mới, giá dịch vụ phát điện được xác định trên cơ sở toàn bộ chi phí hợp lý, hợp lệ của dự án trong suốt vòng đời kinh tế. Một trong những điểm đáng chú ý là tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) về tài chính của dự án không được vượt quá 12%.
![]() |
| Giá điện BOT được xác định theo khung mới từ cuối tháng 7. (Ảnh minh họa) |
Giá điện BOT được cấu thành từ hai nhóm chi phí chính gồm giá công suất và giá điện năng. Trong đó, giá công suất bao gồm chi phí cố định và chi phí vận hành, bảo dưỡng cố định; còn giá điện năng phản ánh các khoản chi nhiên liệu và vận hành, bảo dưỡng biến đổi.
Thông tư cũng quy định việc xác định giá điện bằng ngoại tệ chỉ được thực hiện khi tuân thủ quy định về quản lý ngoại hối và có sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đáng lưu ý, mức giá dịch vụ phát điện dùng để đối chiếu với khung giá phát điện tại năm cơ sở không được vượt quá khung giá do Bộ Công Thương ban hành đối với từng loại hình nhà máy điện BOT.
Để xác định giá công suất, các bên sẽ căn cứ vào tổng mức đầu tư được phê duyệt, thời hạn vận hành theo hợp đồng BOT, công suất hợp đồng, cơ cấu nguồn vốn, thời gian khấu hao tài sản, lãi suất vay và các nghĩa vụ tài chính liên quan. Chi phí đầu tư được tính trên toàn bộ hệ thống thuộc trách nhiệm của bên bán điện, từ nhà máy, hạ tầng kỹ thuật, cầu cảng đến hệ thống đấu nối.
Đối với phần giá điện năng, chi phí nhiên liệu là yếu tố trọng yếu. Cơ chế tính toán được thiết kế riêng theo từng loại nhiên liệu sử dụng. Với nhà máy nhiệt điện than, chi phí vận chuyển được xác định trên cơ sở các hợp đồng vận tải than. Đối với điện khí, chi phí này gắn với giá dịch vụ vận chuyển khí qua đường ống. Riêng các dự án sử dụng LNG, giá nhiên liệu bao gồm cả các khoản chi cho tồn trữ, tái hóa khí, vận chuyển và phân phối LNG.
Thông tư cũng đưa ra cơ chế tránh trùng lặp chi phí trong trường hợp hợp đồng mua nhiên liệu đã bao gồm phí vận chuyển.
Bên cạnh phương pháp xác định giá ban đầu, văn bản mới dành dung lượng đáng kể cho cơ chế điều chỉnh giá trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán điện. Theo đó, các khoản chi phí vận hành và bảo dưỡng được rà soát, điều chỉnh định kỳ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo biến động thực tế của thị trường.
Chi phí nhân công được cập nhật dựa trên chỉ số giá tiêu dùng (CPI), trong khi các khoản vay bằng ngoại tệ sẽ được xem xét điều chỉnh theo biến động tỷ giá. Hằng năm, các bên có trách nhiệm đối chiếu số liệu thực tế về dư nợ, lãi vay và tỷ giá để xác định khoản chênh lệch cần thanh toán.
Tại thời điểm thanh toán tiền điện, giá dịch vụ phát điện sẽ được cập nhật theo diễn biến giá nhiên liệu, chi phí vận hành, bảo dưỡng cũng như hiệu suất vận hành thực tế của nhà máy. Giá trị thanh toán hàng tháng được tính toán trên cơ sở sản lượng điện giao nhận, công suất tin cậy, các chi phí hợp lệ phát sinh cùng các nghĩa vụ thuế, phí theo quy định.
Việc ban hành Thông tư 30/2026/TT-BCT được kỳ vọng sẽ tăng tính minh bạch trong cơ chế hình thành giá điện đối với các dự án BOT, tạo thuận lợi cho quá trình đàm phán hợp đồng mua bán điện, đồng thời góp phần thu hút nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực điện lực, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Huy Tùng
-
Giá điện BOT được xác định theo khung mới từ cuối tháng 7
-
EVN sẽ cập nhật lại hệ thống công tơ sau điều chỉnh khung giờ cao điểm
-
Mỗi năm miền Bắc cần thêm một nhà máy Thủy điện Hòa Bình để đáp ứng tăng trưởng phụ tải
-
EVN làm rõ lợi nhuận, lỗ lũy kế và khoản tiền gửi 152.000 tỷ đồng
-
EVN kiến nghị ưu tiên đầu tư hạ tầng năng lượng biển, điện gió ngoài khơi

