Kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục có sự phục hồi từ quý IV/2023?

08:35 | 11/10/2023

65 lượt xem
|
Các chỉ báo kinh tế vẫn cho thấy Việt Nam đang ở cuối chu kì suy thoái. Nền kinh tế sẽ sẵn sàng bước vào chu kỳ phục hồi trong quý IV/2023.
Kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục có sự phục hồi từ quý IV/2023.
Kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục có sự phục hồi từ quý IV/2023.

Giải ngân đầu tư công 9 tháng vượt 50%

Trong báo cáo mới đây, Công ty Chứng khoán DSC cho biết, tính tới hết tháng 9/2023, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công từ nguồn ngân sách Nhà nước trên toàn quốc ước đạt hơn 363 nghìn tỷ đồng, đạt 51,3% kế hoạch Chính phủ giao. Tỷ lệ này cao hơn khá nhiều so với cùng kỳ năm 2022 (46,7%), tương đương khoảng hơn 110.000 tỷ đồng xét về giá trị tuyệt đối.

DSC cho rằng, đây là tín hiệu đáng tích cực trong việc giải ngân vốn đầu tư công bởi mặc dù tổng vốn Chính phủ giao trong năm nay là rất lớn nhưng tỷ lệ giải ngân vẫn tăng trưởng so với cùng kỳ năm ngoái và là năm đầu tiên tỷ lệ giải ngân 9 tháng đầu năm vượt mức 50%.

“Đầu tư công là một công cụ chính sách tài khóa hữu hiệu, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công sẽ tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng chậm và cần thêm nhiều “vốn mồi” để kích thích đầu tư”, DSC đánh giá.

Kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục có sự phục hồi từ quý IV/2023?

Dẫn số liệu từ Tổng Cục thống kê, DSC cho biết, lũy kế 9 tháng đầu năm 2023, tỷ lệ giải ngân của TP HCM đạt 42,2% trên tổng số vốn được giao là hơn 70.000 tỷ đồng. Trong khi đó, tốc độ giải ngân của Hà Nội khả quan hơn ở mức 57,7%. 2 thành phố trực thuộc Trung ương còn lại là Hải Phòng và Cần Thơ đều duy trì được tốc độ giải ngân vốn tốt, lần lượt đạt 57,5% và 67,7%, cao hơn so với trung bình cả nước.

DSC kỳ vọng, Hà Nội và TP HCM sẽ đẩy nhanh được tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công trong 3 tháng cuối năm 2023, nhờ các đại dự án lớn như đường Vành đai 3 TP HCM và Vành đai 4 TP HCM.

Trong khi đó, Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) tiếp tục duy trì tốc độ giải ngân ở mức tốt, lũy kế 9 tháng đầu năm 2023 đạt 56.631 tỷ đồng, đạt 61,9% kế hoạch được giao. Hiện nay các dự án giao thông trọng điểm như cao tốc Bắc-Nam 2 giai đoạn, Dự án bồi thường, tái định cư sân bay Long Thành vẫn đang có tiến triển tốt. Tuy nhiên với tổng số vốn được giao trong năm nay lên tới hơn 95.000 tỷ đồng, DSC cho rằng, áp lực giải ngân trong nhưng tháng cuối năm của Bộ GTVT vẫn là rất lớn.

Về hoạt động doanh nghiệp, theo DSC, trong tháng 9, số doanh nghiệp thành lập mới và quay lại hoạt động đạt 18.492 doanh nghiệp, gần như không đổi so với tháng trước. Trong khi đó, số doanh nghiệp tạm dừng kinh doanh, chờ và đã giải thể đạt 10.838 doanh nghiệp giảm 8% so với tháng trước.

Kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục có sự phục hồi từ quý IV/2023?

Tính chung 9 tháng năm 2023, cả nước có 116 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.086 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 748,9 nghìn lao động, tăng 3,1% về số doanh nghiệp, giảm 14,6% về vốn đăng ký và giảm 1,2% về số lao động so với cùng kỳ năm trước.

Cũng trong 9 tháng này, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 75,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 21,2% so với cùng kỳ năm trước; 46,1 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 26,9%; 13,2 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 4,3%. Bình quân một tháng có 15 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

“Tuy lạm phát giảm nhẹ nhưng nền kinh tế chưa thực sự phục hồi là lý do cho sự giảm sút về số doanh nghiệp đăng kí mới. Quy mô sản xuất cũng như PMI quay trở lại mức thu hẹp càng thể hiện rõ hơn về môi trường doanh nghiệp Việt Nam hiện nay”, DSC đánh giá.

Sẽ bước vào pha hồi phục trong phần cuối năm 2023

Về thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI), DSC cho biết, lũy kế 9 tháng đầu năm, vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam đạt 20,21 tỷ USD, tăng 7,7% so với cùng kỳ. Xét về mặt giải ngân, FDI thực hiện đạt 15,9 tỷ USD (cao nhất giai đoạn 2018-2023).

Kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục có sự phục hồi từ quý IV/2023?

Xét về cơ cấu ngành thu hút FDI, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt gần 14 tỷ USD, tăng 15,5% và chiếm xấp xỉ 69,3% tổng vốn đầu tư đăng ký. Vốn FDI rót vào ngành Bất động sản giảm mạnh nhưng vẫn giữ vị trí thứ 2 với 1,94 tỷ USD, giảm 45% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 9,6% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Về đối tác, 6 nhà đầu tư truyền thống đến từ Châu Á vẫn chiếm tỷ trọng lớn (Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan…); chiếm 78,8% tổng vốn đầu tư cả nước. Về địa phương, Hà Nội tiếp tục dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 2,34 tỷ USD; đứng vị trí thứ hai là Hải Phòng (2,21 tỷ USD), với loạt dự án mới nổi bật như Nhà máy vật liệu sinh học Ecovance, Nhà máy phụ tùng ô tô Daimay…

“Như vậy, tình hình thu hút FDI vẫn duy trì đà tăng trong tháng 9. Mặc dù vốn điều chỉnh giảm, nhưng xu hướng đã có sự cải thiện hơn so với tháng trước. Việt Nam vẫn được xem là “vùng đất màu mỡ” trên bản đồ thu hút đầu tư FDI với nhiều lợi thế về chi phí và vị trí”, DSC đánh giá.

Đồng thời, Công ty Chứng khoán này cũng kỳ vọng, các chuyến công du tới Hoa Kỳ, Brazil của Thủ tướng Chính phủ, sẽ giúp Việt Nam nhận được sự quan tâm lớn. Hiện tại, Việt Nam đang rất nỗ lực triển khai hàng loạt dự án hạ tầng kết nối và giảm bớt thủ tục hành chính, là tiền đề hút vốn FDI trong những tháng cuối năm.

Kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục có sự phục hồi từ quý IV/2023?

DSC cũng cho rằng, ở thời điểm hiện tại, các yếu tố vĩ mô đang chỉ ra rằng Việt Nam đang ở cuối chu kỳ suy thoái và sẽ bước vào pha hồi phục trong phần cuối năm 2023, nhờ các yếu tố sau: Số lượng đơn đặt hàng và nhu cầu tăng vượt khả năng sản xuất của một số doanh nghiệp; Tăng trưởng tín dụng vẫn rất yếu so với cùng kỳ năm trước nhưng đã cho thấy dấu hiệu tích cực sau các chính sách của ngân hàng nhà nước; Nguồn vốn FDI tiếp tục tăng trưởng ổn định; Ghi nhận tháng thứ 3 liên tiếp đón trên 1 triệu lượt khách quốc tế; Tỷ giá đang được kiểm soát; Doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trên đà tăng trưởng; Lần đầu tiên tỷ lệ giải ngân 9 tháng đầu năm vượt mức 50%.

“Với kỳ vọng tỷ giá neo cao nhưng được kiểm soát sẽ giúp cho ngành xuất khẩu nở rộ, các chính sách hỗ trợ kinh tế của nhà nước phát huy hiệu quả vốn có, Tăng trưởng tín dụng có thể hồi phục trong các tháng tới để đạt mục tiêu 14% trong năm nay, chúng tôi duy trì kỳ vọng kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục có sự phục hồi từ quý IV/2023”, DSC kỳ vọng.

Theo Diễn đàn Doanh nghiệp

Nền kinh tế dần lấy lại đà tăng trưởngNền kinh tế dần lấy lại đà tăng trưởng
Sản xuất công nghiệp lần đầu tiên tăng trưởng dương trong năm 2023Sản xuất công nghiệp lần đầu tiên tăng trưởng dương trong năm 2023
PGS.TS Vũ Minh Khương: Chân trời mới đang mở ra, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của một kỷ nguyên có thể cất cánhPGS.TS Vũ Minh Khương: Chân trời mới đang mở ra, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của một kỷ nguyên có thể cất cánh

  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • nang-luong-cho-phat-trien
  • pvoil-duong-xa-them-gan
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 76,450 78,650
AVPL/SJC HCM 76,450 78,650
AVPL/SJC ĐN 76,450 78,650
Nguyên liệu 9999 - HN 64,300 64,850
Nguyên liệu 999 - HN 64,200 64,750
AVPL/SJC Cần Thơ 76,450 78,650
Cập nhật: 25/02/2024 05:00
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 63.550 64.700
TPHCM - SJC 76.500 78.700
Hà Nội - PNJ 63.550 64.700
Hà Nội - SJC 76.500 78.700
Đà Nẵng - PNJ 63.550 64.700
Đà Nẵng - SJC 76.500 78.700
Miền Tây - PNJ 63.550 64.700
Miền Tây - SJC 76.700 78.800
Giá vàng nữ trang - PNJ 63.550 64.700
Giá vàng nữ trang - SJC 76.500 78.700
Giá vàng nữ trang - Đông Nam Bộ PNJ 63.550
Giá vàng nữ trang - SJC 76.500 78.700
Giá vàng nữ trang - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 63.550
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 63.400 64.200
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 46.900 48.300
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 36.310 37.710
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 25.460 26.860
Cập nhật: 25/02/2024 05:00
AJC Mua vào Bán ra
TT, 3A, NT Nghệ An 6,450 6,560
Trang sức 99.99 6,395 6,540
Trang sức 99.9 6,385 6,530
SJC Thái Bình 7,650 7,870
NT, ĐV, 3A Hà Nội 6,450 6,560
NT, 3A, ĐV Thái Bình 6,450 6,560
NL 99.99 6,410
Nhẫn tròn ko ép vỉ TB 6,400
Miếng SJC Nghệ An 7,650 7,870
Miếng SJC Hà Nội 7,650 7,870
Cập nhật: 25/02/2024 05:00
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L, 1KG 76,600 78,800
SJC 5c 76,600 78,820
SJC 2c, 1C, 5 phân 76,600 78,830
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 63,550 64,750
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.3 chỉ, 0.5 chỉ 63,550 64,850
Nữ Trang 99.99% 63,350 64,350
Nữ Trang 99% 62,213 63,713
Nữ Trang 68% 41,912 43,912
Nữ Trang 41.7% 24,987 26,987
Cập nhật: 25/02/2024 05:00

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,717.39 15,876.15 16,386.29
CAD 17,774.72 17,954.26 18,531.17
CHF 27,210.35 27,485.20 28,368.37
CNY 3,349.66 3,383.50 3,492.74
DKK - 3,507.01 3,641.48
EUR 25,943.77 26,205.83 27,367.66
GBP 30,352.89 30,659.48 31,644.65
HKD 3,066.61 3,097.59 3,197.12
INR - 296.18 308.04
JPY 158.40 160.00 167.65
KRW 15.96 17.74 19.35
KWD - 79,840.32 83,036.35
MYR - 5,099.76 5,211.24
NOK - 2,286.49 2,383.68
RUB - 251.38 278.29
SAR - 6,546.21 6,808.25
SEK - 2,331.76 2,430.88
SGD 17,832.84 18,012.97 18,591.77
THB 602.29 669.21 694.87
USD 24,420.00 24,450.00 24,790.00
Cập nhật: 25/02/2024 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 15,846 15,866 16,466
CAD 17,934 17,944 18,644
CHF 27,439 27,459 28,409
CNY - 3,354 3,494
DKK - 3,487 3,657
EUR #25,800 26,010 27,300
GBP 30,686 30,696 31,866
HKD 3,019 3,029 3,224
JPY 159.5 159.65 169.2
KRW 16.31 16.51 20.31
LAK - 0.68 1.38
NOK - 2,257 2,377
NZD 15,004 15,014 15,594
SEK - 2,311 2,446
SGD 17,782 17,792 18,592
THB 632.11 672.11 700.11
USD #24,390 24,430 24,850
Cập nhật: 25/02/2024 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 24,400.00 24,430.00 24,750.00
EUR 26,125.00 26,230.00 27,143.00
GBP 30,559.00 30,743.00 31,541.00
HKD 3,081.00 3,093.00 3,195.00
CHF 27,457.00 27,567.00 28,312.00
JPY 160.40 161.04 166.00
AUD 15,837.00 15,901.00 16,370.00
SGD 18,045.00 18,117.00 18,519.00
THB 666.00 669.00 701.00
CAD 17,960.00 18,032.00 18,431.00
NZD 14,998.00 15,491.00
KRW 17.72 19.36
Cập nhật: 25/02/2024 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 24440 24490 24910
AUD 15959 16009 16420
CAD 18056 18106 18519
CHF 27749 27799 28223
CNY 0 3387.6 0
CZK 0 1020 0
DKK 0 3490 0
EUR 26408 26458 26979
GBP 31007 31057 31522
HKD 0 3120 0
JPY 161.46 161.96 166.56
KHR 0 5.6713 0
KRW 0 18.4 0
LAK 0 1.0295 0
MYR 0 5337 0
NOK 0 2330 0
NZD 0 15045 0
PHP 0 370 0
SEK 0 2360 0
SGD 18168 18168 18533
THB 0 642.4 0
TWD 0 777 0
XAU 7650000 7650000 7770000
XBJ 5900000 5900000 6350000
Cập nhật: 25/02/2024 05:00