Khám sức khỏe miễn phí cho người dân: "Phép thử" lớn của y tế cơ sở

14:08 | 24/08/2026

9 lượt xem
|
(PetroTimes) - Chương trình khám sức khỏe miễn phí đang đưa bác sĩ, xét nghiệm và sàng lọc đến gần người dân, đồng thời đặt y tế cơ sở trước một phép thử lớn về nhân lực, tài chính, công nghệ và năng lực quản lý dữ liệu.
Khám sức khỏe miễn phí cho người dân:
(Ảnh minh họa)

Từ một lần khám gần nhà đến chủ trương toàn dân

Khi Hà Nội triển khai đợt khám sức khỏe miễn phí vào 7/2026, bà Nguyễn Thị Quý, 62 tuổi, ở thôn 4 Hạ Lôi, xã Mê Linh, đã có mặt tại trạm y tế xã từ sớm. Bà vui mừng vì không phải đi xa vẫn được kiểm tra sức khỏe toàn diện.

“Tôi được đón tiếp chu đáo, được bác sĩ thăm khám cẩn thận như khám tổng quát, khám răng hàm mặt, lấy máu xét nghiệm, xét nghiệm nước tiểu, chụp X-quang và khám chuyên khoa. Mà khám ngay tại địa phương, không cần phải lên bệnh viện tuyến trên, nên rất phấn khởi. Khám bệnh, tôi được phát hiện bệnh sớm và tư vấn để không chờ bệnh nặng mới biết đi chữa”- bà Quý chia sẻ.

Việc kiểm tra sức khỏe định kỳ có ý nghĩa với người dân, nhất là người lớn tuổi. Nhưng nhiều người vẫn trì hoãn đi khám vì khoảng cách, chi phí hoặc tâm lý chỉ đến cơ sở y tế khi đã có triệu chứng.

Vì thế, việc đưa bác sĩ, xét nghiệm và sàng lọc đến gần người dân không chỉ giải quyết một lần khám. Quan trọng hơn, cách làm này đang cụ thể hóa định hướng chuyển từ chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, để người dân biết tình trạng sức khỏe của mình sớm hơn.

Đây chính là tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm “phấn đấu mỗi người dân được khám sức khỏe ít nhất một lần mỗi năm” và của Chỉ thị 17/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân.

Gần 32 triệu người đã khám sức khỏe miễn phí

Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn, đến cuối 7/2026, cả 34/34 tỉnh, thành phố đã triển khai khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí. Tổng số người đã được khám là 31.759.196 người, chiếm 29,63% dân số cả nước.

Đáng chú ý, 12/34 địa phương đã khám cho trên 50% dân số. Đồng Tháp dẫn đầu với 72,8%, tiếp đó là Cà Mau 65,4%, Thái Nguyên 64,3%, Đắk Lắk 61,1%, Lâm Đồng 60,3%, Phú Thọ 60%...

Khoảng cách giữa các địa phương hiện nay rất rõ. Trong khi Đồng Tháp đã khám cho 72,8% dân số thì Quảng Trị mới đạt 0,1%, Gia Lai 0,4%, Huế 1,4%, An Giang 2,3%, TP HCM 4% và Hà Nội 6,9%. Điều này cho thấy, nếu không có giải pháp điều phối nguồn lực và trách nhiệm cụ thể, mục tiêu toàn dân được khám trong năm 2026 sẽ là thách thức lớn.

Vì thế, Bộ Y tế đã kiến nghị Chính phủ yêu cầu các địa phương có tỷ lệ khám dưới 20% xây dựng kế hoạch khắc phục cụ thể, xác định lộ trình, trách nhiệm và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng về kết quả thực hiện.

Những điểm nghẽn cần khắc phục

Đánh giá tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị số 17/CT-TTg, Bộ Y tế thẳng thắn chỉ ra những khó khăn, thách thức trong quá trình triển khai.

Theo Bộ Y tế, khó khăn được phản ánh nhiều nhất là nguồn lực. Nhiều nơi thiếu bác sĩ và nhân viên y tế, đặc biệt ở tuyến cơ sở, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Không ít trạm y tế chưa đủ điều kiện khám theo quy định, thiếu thiết bị cận lâm sàng và phương tiện khám lưu động.

Nhu cầu kinh phí rất lớn nhưng khả năng cân đối ngân sách địa phương còn hạn chế. Các địa phương cũng lúng túng khi xác định kinh phí cho các chỉ định cận lâm sàng, người không có thẻ bảo hiểm y tế, học viên, sinh viên chính quy và khi lựa chọn hình thức giao đơn vị thực hiện khám.

Một điểm nghẽn lớn khác là dữ liệu.

Theo Thứ trưởng Trần Văn Thuấn, việc kết nối, chia sẻ và đồng bộ dữ liệu giữa cơ sở dữ liệu dân cư, bảo hiểm y tế, hồ sơ sức khỏe điện tử và các phần mềm quản lý khám, chữa bệnh vẫn còn khó khăn. Hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm và đường truyền ở nhiều cơ sở, đặc biệt tại tuyến cơ sở, miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo, chưa đồng bộ, chưa ổn định.

Một số đơn vị vẫn chưa thực hiện được ký số, chưa liên thông hoặc đồng bộ dữ liệu lên Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID; kết quả khám tại doanh nghiệp hoặc tại cơ sở khám, chữa bệnh ngoài địa phương cũng chưa được cập nhật đầy đủ.

Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng, bởi mục tiêu của Chỉ thị 17 là đến hết năm 2026, không chỉ toàn dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất một lần mỗi năm, mà còn được lập Sổ sức khỏe điện tử.

Đến nay, đã có hơn 31,7 triệu người được khám, nhưng mới có 3.817.409 người được lập Sổ sức khỏe điện tử. Khoảng cách này cho thấy thách thức phía trước không chỉ là tổ chức thêm hàng chục triệu lượt khám, mà còn phải biến kết quả khám thành dữ liệu sức khỏe có thể sử dụng lâu dài.

Bộ Y tế đang triển khai Chiến dịch 100 ngày tạo lập, cập nhật Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID, từ ngày 8/7 đến 15/10/2026, để mỗi người dân có một Sổ sức khỏe điện tử.

Vì vậy, khám sức khỏe và chuyển đổi số phải là một quy trình thống nhất: người dân được khám, kết quả được số hóa, dữ liệu được liên thông và bác sĩ có thể sử dụng dữ liệu đó để theo dõi sức khỏe về sau.

Một vấn đề lớn nữa mà Bộ Y tế nêu ra là tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, địa bàn rộng, dân cư phân tán, giao thông khó khăn khiến việc tổ chức khám lưu động tốn thêm cả thời gian và chi phí. Bên cạnh đó, một bộ phận người dân chưa mặn mà với việc khám định kỳ, thậm chí sợ phát hiện bệnh vì lo phát sinh chi phí điều trị.

Vì vậy, chính sách toàn dân càng cần một cơ chế phân bổ nguồn lực có tính đến điều kiện thực tế. Không thể áp dụng một cách làm giống nhau cho một địa phương có hạ tầng y tế tốt và một địa phương có địa bàn rộng, dân cư thưa, thiếu bác sĩ và phải đưa đoàn khám vượt hàng chục, hàng trăm kilomet.

Nguồn lực phải đi cùng chủ trương

Từ thực tế triển khai, Bộ Y tế đề xuất Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính khẩn trương ban hành hướng dẫn thống nhất về cơ chế tài chính, nguồn kinh phí, định mức, thanh quyết toán và cơ chế thanh toán khám sức khỏe định kỳ; đồng thời nghiên cứu bố trí ngân sách Trung ương hỗ trợ những địa phương khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Một hướng đi khác cũng được đặt ra là nghiên cứu cơ chế sử dụng Quỹ bảo hiểm y tế đối với khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc và từng bước mở rộng phạm vi chi trả đối với các dịch vụ sàng lọc, phát hiện sớm bệnh tật, phù hợp với khả năng cân đối của Quỹ.

Đây là điểm có ý nghĩa quyết định với tính bền vững của chính sách. Bởi nếu mỗi năm lại phải tìm một nguồn kinh phí mới để tổ chức khám, chương trình sẽ luôn đứng trước bài toán nguồn lực. Ngược lại, nếu có cơ chế tài chính ổn định, rõ đối tượng, rõ danh mục, rõ mức chi và rõ phương thức thanh toán, chính sách sẽ có nền tảng để vận hành lâu dài.

Gần 32 triệu người được khám trong thời gian ngắn cho thấy sức hút của một chính sách đặt người dân vào vị trí trung tâm của chăm sóc sức khỏe. Nhưng con số ấy mới là điểm khởi đầu.

Điều quan trọng hơn là sau lần khám đó, người dân có được theo dõi tiếp hay không; kết quả có trở thành dữ liệu sức khỏe hay không; và hệ thống có đủ nguồn lực để duy trì việc khám định kỳ mỗi năm hay không.

Chủ trương đã đi vào cuộc sống. Bài toán tiếp theo là xây dựng một cơ chế đủ chắc để từ một lần khám, hình thành một hành trình chăm sóc sức khỏe lâu dài cho mỗi người dân.

Thanh Hẳng

  • bidv-direct
  • vpbank
  • thp