Cần nguồn lực mạnh để chớp thời cơ phục hồi kinh tế

15:14 | 11/11/2021

|
Bộ KH-ĐT vừa trình Chính phủ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế sau dịch Covid-19, với quy mô 800.000 tỷ đồng, gấp 3,5 lần gói hỗ trợ năm 2021 của Chính phủ.

Trước đó, hồi đầu tháng 10, trong buổi làm việc với VCCI và gặp gỡ đại diện giới doanh nhân, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết sẽ có gói hỗ trợ lớn hơn để tái thiết kinh tế.

hương trình phục hồi và phát triển kinh tế sau dịch bệnh COVID-19 được Bộ KH&ĐT đề xuất, gói hỗ trợ có quy mô khoảng 800.000 tỷ đồng (gần 35 tỷ USD), khoảng 10% GDP và gấp 3,5 lần gói hỗ trợ của Chính phủ năm 2021
Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế hậu COVID-19 được đề xuất có quy mô khoảng 800.000 tỷ đồng, khoảng 10% GDP và gấp 3,5 lần gói hỗ trợ của Chính phủ năm 2021.

Doanh nghiệp "trông ngóng" hỗ trợ kéo dài

Ông Trần Văn Tân, Tổng giám đốc Công ty CP Xây dựng và Thương mại phong cách mới (Queen Farm) cho biết, nguồn thu sụt giảm 90%, các kế hoạch ra mắt sản phẩm mới trong quý III/2021 của doanh nghiệp cũng "phá sản" vì đại dịch.

Sức khỏe tài chính của doanh nghiệp vì vậy suy giảm rất nhiều, do đó hơn ai hết doanh nghiệp kỳ vọng và mong mỏi nhanh chóng có một "đòn bẩy" để giải cứu và giúp doanh nghiệp phục hồi sản xuất kịp thời.

Cũng theo ông Tân, chương trình hỗ trợ này phải sát thực tế để doanh nghiệp tiếp cận một cách dễ dàng và đơn giản. Có như thế, việc triển khai gói kích thích kinh tế mới thực sự mang lại hiệu quả cho người lao động, doanh nghiệp và nền kinh tế.

Theo Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế sau dịch bệnh COVID-19 được Bộ KH&ĐT đề xuất, gói hỗ trợ có quy mô khoảng 800.000 tỷ đồng (gần 35 tỷ USD), khoảng 10% GDP và gấp 3,5 lần gói hỗ trợ của Chính phủ năm 2021 nhằm tập trung hỗ trợ nền kinh tế sớm vượt qua khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển. Nhận định về đề xuất gói hỗ trợ phục hồi kinh tế này, TS Trần Du lịch cho rằng, trong tình hình hiện nay, cần có gói hỗ trợ đủ mạnh từ Nhà nước giúp doanh nghiệp, người dân gặp khó khăn vì đại dịch.

“Vì vậy, Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế sau dịch Covid-19, khoảng 800.000 tỷ đồng, tức gần 10% GDP mà Bộ KH-ĐT đưa ra là cần thiết”, ông Lịch nhấn mạnh.

Theo ông Trần Du Lịch, gói hỗ trợ như vậy để xử lý các vấn đề như an sinh xã hội, cấp bù lãi suất, giảm miễn các loại thuế phí, kể cả giảm thuế VAT, các khoản dành cho các chương trình khác như hỗ trợ tái cơ cấu, các gói liên quan đến hỗ trợ nhà ở cho công nhân, nhà ở xã hội… Gói này kéo dài trong năm 2022-2023, được biết có những phần sẽ sử dụng tiền mặt, phần quan trọng đến từ việc miễn, giảm thuế phí… giống như năm 2021.

Tuy nhiên, chuyên gia cho rằng gói hỗ trợ này có thể cần lớn hơn nữa để thực sự “bứt tốc” sau đại dịch. Nói như chuyên gia kinh tế Trần Đình Thiên: “Nếu có thể tính toán đầy đủ được thì mong rằng gói hỗ trợ có thể hơn 10% GDP”.

Cụ thể, theo ông Thiên, Chương trình hỗ trợ phục hồi kinh tế lần này không thể nhỏ như năm ngoái là 2% GDP, có thể nó không đến mức như Nhật Bản, đến 40-50% GDP.

"Chúng tôi cũng đã ngồi thảo luận về 1 chương trình hỗ trợ khoảng 10% GDP. Theo quan điểm của tôi, 10% GDP chưa có gì quá đáng cả so với nhiều quốc gia trên thế giới, các chương trình hỗ trợ của họ lên tới 30 – 40% GDP”, ông Thiên nói.

Đặc biệt theo chuyên gia Trần Đình Thiên, nếu có thể tính toán đẩy đủ được, để bứt lên được thì mong muốn gói hỗ trợ đó có thể hơn 10% GDP. “10% GDP khoảng 35 tỷ USD, hơn 10% GDP có thể là 40 – 45 tỷ USD và không chỉ dùng trong 2 năm mà có thể kéo dài ra 3 năm", ông Thiên nói.

hơn 10%GDP có thể là 40 – 45 tỷ USD và không chỉ dùng trong 2 năm mà có thể kéo dài ra 3 năm
Doanh nghiệp kỳ vọng gói hỗ trợ hơn 10% GDP, không chỉ 35 tỷ USD mà có thể là 40 – 45 tỷ USD và không chỉ dùng trong 2 năm mà có thể kéo dài ra 3 năm.

Lý giải thêm về con số này, ông Thiên cho rằng, gói hỗ trợ không phải chỉ cứu những lực lượng cũ mà còn phải tạo ra cơ hội để tạo ra lực lượng mới phù hợp với thời địa mới chẳng hạn như ngành nghề mới, công nghệ mới,…

“Nếu chúng ta đứng dậy mà toàn cái cũ, trong khi thế giới có rất nhiều cái mới thì dù có thể tăng trưởng tốt nhưng tụt hậu là chắc chắn, bởi đẳng cấp của chúng ta khi đó không thay đổi còn các quốc gia khác là tiến lên”, ông Thiên nhấn mạnh.

Mục tiêu phải cao hơn

Cũng theo các chuyên gia, nhân dịp này, chúng ta có thể dùng công cụ ngân sách để không chỉ hỗ trợ tái cơ cấu bình thường sau đại dịch và đặt cả mục tiêu tái cơ cấu gắn với nâng cao chất lượng nền kinh tế.

“Qua đây khắc phục những tồn tại về kết cấu hạ tầng, thúc đẩy chương trình chuyển đổi số quốc gia, giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tổ chức lại cơ cấu thị trường…Từ đó, chúng ta thực hiện mục tiêu nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế. Cách tính toán, cách tìm nguồn đặt mục tiêu và cân đối các loại nguồn, trong đó có phần bội chi ngân sách”, ông Trần Du Lịch nhấn mạnh.

Cũng theo vị chuyên gia kinh tế này, gói hỗ trợ 800.000 tỷ đồng có nhiều khoản, có những phần không tạo dòng tiền mới như miễn giảm thuế, phí, có phần có dòng tiền mới. Khi phân bổ những phần có dòng tiền mới để hỗ trợ doanh nghiệp, cần chú trọng nhiều vấn đề.

“Chẳng hạn, khi thực hiện cơ chế bù lãi suất cần tránh lặp lại tình trạng như ở giai đoạn 10 năm trước là hỗ trợ cào bằng. Theo đó, phải xác định doanh nghiệp nào cần được cấp bù, hỗ trợ bù lãi suất phải gắn với tái cơ cấu, chuyển đổi số, đổi mới công nghệ. Chính phủ đưa ra quy định chung, từ đó phân cấp cho địa phương chủ động nắm lại lực lượng. Riêng hỗ trợ doanh nghiệp, phải có vai trò của các hiệp hội, ngành nghề có liên quan về các đối tượng. Tôi nhấn mạnh hỗ trợ phải có mục tiêu, không cào bằng vì sẽ làm méo mó thị trường”, ông Trần Du Lịch nêu quan điểm.

Theo Diễn đàn doanh nghiệp

3 yếu tố giúp Việt Nam chưa quá nóng ruột với lạm phát3 yếu tố giúp Việt Nam chưa quá nóng ruột với lạm phát
Quốc hội sắp chất vấn về phục hồi kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệpQuốc hội sắp chất vấn về phục hồi kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp
Xuất nhập khẩu 10 tháng vượt 537 tỷ USDXuất nhập khẩu 10 tháng vượt 537 tỷ USD

  • bidv-65-nam
  • sao-thai-duong
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN lẻ 67,900 ▼1100K 68,800 ▼1000K
AVPL/SJC HN buôn 67,900 ▼1100K 68,800 ▼1000K
AVPL/SJC HCM lẻ 67,900 ▼1100K 68,800 ▼1000K
AVPL/SJC HCM buôn 67,900 ▼1100K 68,800 ▼1000K
AVPL/SJC ĐN lẻ 67,900 ▼1100K 68,800 ▼1000K
AVPL/SJC ĐN buôn 67,900 ▼1100K 68,800 ▼1000K
Nguyên liêu 9999 - HN 54,100 54,350
Nguyên liêu 999 - HN 54,050 54,300
AVPL/SJC CT lẻ 67,900 ▼1100K 68,800 ▼1000K
AVPL/SJC CT buôn 67,900 ▼1100K 68,800 ▼1000K
Cập nhật: 25/05/2022 21:15
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - Bóng đổi 9999 0 0
TPHCM - PNJ 54.200 ▼100K 55.300 ▼100K
TPHCM - SJC 68.000 ▼900K 69.000 ▼900K
Hà Nội - PNJ 54.200 ▼100K 55.300 ▼100K
Hà Nội - SJC 68.000 ▼1000K 69.000 ▼900K
Đà Nẵng - PNJ 54.200 ▼100K 55.300 ▼100K
Đà Nẵng - SJC 68.000 ▼900K 69.000 ▼900K
Cần Thơ - PNJ 54.200 ▼100K 55.300 ▼100K
Cần Thơ - SJC 68.200 ▼1000K 69.100 ▼800K
Giá vàng nữ trang - Nhẫn PNJ (24K) 54.200 ▼100K 55.200 ▼100K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 53.600 ▼100K 54.400 ▼100K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 39.550 ▼80K 40.950 ▼80K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 30.570 ▼60K 31.970 ▼60K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 21.380 ▼40K 22.780 ▼40K
Cập nhật: 25/05/2022 21:15
AJC Mua vào Bán ra
Đồng vàng 99.99 5,430 5,500 ▼10K
Vàng trang sức 99.99 5,345 5,485 ▼10K
Vàng trang sức 99.9 5,335 5,475 ▼10K
Vàng NL 99.99 5,400 5,485 ▼10K
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,780 ▼120K 6,900 ▼90K
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,780 ▼120K 6,905 ▼85K
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,805 ▼105K 6,890 ▼95K
Vàng NT, TT 3A Thái Bình 5,430 ▼10K 5,530
Vàng NT, TT 3A Nghệ An 5,435 ▼5K 5,535 ▼5K
Vàng NT, TT 3A Hà Nội 5,430 5,500 ▼10K
Cập nhật: 25/05/2022 21:15
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 68,100 ▼900K 69,100 ▼800K
SJC 5c 68,100 ▼900K 69,120 ▼800K
SJC 2c, 1C, 5 phân 68,100 ▼900K 69,130 ▼800K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 54,200 ▼200K 55,200 ▼100K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 54,200 ▼200K 55,300 ▼100K
Nữ Trang 99.99% 54,000 ▼100K 54,800 ▼100K
Nữ Trang 99% 52,957 ▼99K 54,257 ▼99K
Nữ Trang 68% 35,418 ▼68K 37,418 ▼68K
Nữ Trang 41.7% 21,004 ▼42K 23,004 ▼42K
Cập nhật: 25/05/2022 21:15

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,046.70 16,208.79 16,731.27
CAD 17,639.26 17,817.43 18,391.76
CHF 23,500.07 23,737.44 24,502.60
CNY 3,408.43 3,442.85 3,554.37
DKK - 3,278.92 3,404.99
EUR 24,210.26 24,454.81 25,566.40
GBP 28,319.17 28,605.22 29,527.29
HKD 2,881.75 2,910.85 3,004.68
INR - 298.54 310.53
JPY 177.65 179.45 188.08
KRW 15.88 17.64 19.35
KWD - 75,781.64 78,822.98
MYR - 5,230.16 5,345.02
NOK - 2,373.28 2,474.41
RUB - 363.34 492.42
SAR - 6,170.34 6,417.97
SEK - 2,323.27 2,422.27
SGD 16,471.61 16,637.99 17,174.31
THB 600.00 666.67 692.30
USD 23,040.00 23,070.00 23,350.00
Cập nhật: 25/05/2022 21:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD - 16,068 16,768
CAD - 17,751 18,451
CHF - 23,629 24,579
CNY - 3,396 3,536
DKK - 3,236 3,406
EUR - 23,894 25,184
GBP - 28,493 29,663
HKD - 2,836 3,031
JPY - 178.49 188.04
KRW - 16.27 20.07
LAK - 1.04 1.99
NOK - 2,329 2,449
NZD - 14,716 15,126
SEK - 2,272 2,407
SGD - 16,306 17,106
THB - 663.78 691.78
USD - 22,980 23,420
Cập nhật: 25/05/2022 21:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 23,055 23,055 23,335
USD(1-2-5) 22,838 - -
USD(10-20) 23,009 - -
GBP 28,429 28,600 29,656
HKD 2,893 2,914 2,997
CHF 23,583 23,725 24,504
JPY 178.36 179.44 187.56
THB 640.96 647.44 706.85
AUD 16,057 16,154 16,692
CAD 17,668 17,774 18,335
SGD 16,491 16,590 17,129
SEK - 2,318 2,394
LAK - 1.47 1.82
DKK - 3,274 3,382
NOK - 2,378 2,457
CNY - 3,419 3,534
RUB - 374 480
NZD 14,746 14,835 15,190
KRW 16.43 - 20.07
EUR 24,290 24,356 25,418
TWD 709.94 - 806.78
MYR 4,940.42 - 5,422.73
Cập nhật: 25/05/2022 21:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 23,050.00 23,070.00 23,350.00
EUR 24,466.00 24,484.00 25,391.00
GBP 28,557.00 28,729.00 29,403.00
HKD 2,901.00 2,913.00 3,002.00
CHF 23,720.00 23,815.00 24,462.00
JPY 180.09 180.81 185.03
AUD 16,099.00 16,164.00 16,743.00
SGD 16,640.00 16,707.00 17,093.00
THB 657.00 660.00 700.00
CAD 17,804.00 17,876.00 18,304.00
NZD 0.00 14,703.00 15,196.00
KRW 0.00 17.56 19.22
Cập nhật: 25/05/2022 21:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 23.053 23.050 23.550
AUD 16.131 16.231 16.837
CAD 17.666 17.866 18.472
CHF 23.804 23.904 24.520
EUR 24.343 24.443 25.208
GBP 28.717 28.767 29.426
JPY 180,02 181,02 187,6
SGD 16.670 16.770 17.075
Cập nhật: 25/05/2022 21:15
  • nhien-lieu-bay-cong-nghe-nang-luong-2021
  • pvgas