Tranh Đông Hồ hồi sinh từ ký ức làng quê
Từ những bức tranh mộc mạc được treo trong mỗi nếp nhà vào dịp Tết đến kho tàng tri thức dân gian được lưu truyền qua nhiều thế hệ, tranh Đông Hồ là kết tinh của văn hóa làng xã Bắc Bộ, của thẩm mỹ dân gian và triết lý sống giản dị mà sâu sắc của người Việt. Trong từng đường nét, mảng màu, thấp thoáng quan niệm về nhân sinh, về ước vọng an hòa, đủ đầy và về mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên, cộng đồng.
![]() |
| Nghệ nhân làng tranh Đông Hồ kiên nhẫn truyền nghề cho thế hệ trẻ. |
Ra đời cách đây khoảng 500 năm tại làng Đông Hồ (nay thuộc phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), dòng tranh này được ví như tấm gương phản chiếu tâm hồn và thế giới quan của người Việt truyền thống. Điều làm nên giá trị trường tồn của tranh Đông Hồ không nằm ở sự cầu kỳ hay phô trương, mà ở chính kỹ thuật chế tác và chất liệu hoàn toàn thủ công, gần gũi với tự nhiên. Giấy dó phủ điệp, thứ bột vỏ sò nghiền mịn tạo nên bề mặt lấp lánh nhẹ như ánh nắng trên mặt nước, vừa mộc mạc vừa tinh tế. Màu sắc được chiết xuất từ thiên nhiên: đỏ của sỏi son, vàng của hoa hòe, xanh của lá chàm, đen của than tre… tất cả hòa quyện để tạo nên bảng màu vừa giản dị vừa bền bỉ với thời gian.
Song hành với chất liệu là kỹ thuật khắc gỗ thủ công - linh hồn của tranh Đông Hồ. Nghệ nhân sử dụng kỹ thuật in xấp ván, mỗi màu là một bản khắc riêng, được in chồng lên nhau một cách chính xác. Những ván khắc gỗ cổ, được truyền từ đời này sang đời khác, không chỉ là công cụ sản xuất mà còn là báu vật, là ký ức vật chất của làng nghề.
Đề tài của tranh Đông Hồ phong phú và giàu sức gợi. Đó là tranh thờ như “Ngũ hổ” thể hiện tín ngưỡng dân gian; tranh chúc tụng như “Vinh hoa”, “Phú quý” gửi gắm khát vọng ấm no, hạnh phúc; tranh sinh hoạt như “Đám cưới chuột”, “Chăn trâu thổi sáo” phản ánh đời sống thường nhật với cái nhìn hóm hỉnh, sâu cay. Qua mỗi bức tranh, người xem không chỉ thấy hình ảnh, mà còn đọc được những câu chuyện, những bài học được kể bằng ngôn ngữ tạo hình giản dị mà giàu ý nghĩa.
![]() |
| Nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả - một trong những người “giữ lửa” nghề của nghề làm tranh dân gian Đông Hồ. |
Tuy nhiên, trong dòng chảy của xã hội hiện đại, nghề làm tranh Đông Hồ đang đối mặt với nhiều thách thức. Số lượng nghệ nhân lành nghề ngày càng giảm, lớp trẻ ít mặn mà với nghề truyền thống, trong khi thị trường tiêu thụ thu hẹp, thu nhập không ổn định. Tranh Đông Hồ dần vắng bóng trong đời sống thường nhật, chỉ còn xuất hiện nhiều hơn trong bảo tàng, sách vở hoặc các không gian trưng bày mang tính hoài niệm. Chính thực trạng ấy đã khiến dòng tranh này được xếp vào diện cần bảo vệ khẩn cấp.
Ngày 9-12-2025, tại Kỳ họp lần thứ 20, UNESCO chính thức ghi danh nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là dấu mốc quan trọng, mở ra cơ hội mới cho công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị của dòng tranh dân gian độc đáo này.
Trong hành trình gìn giữ và hồi sinh dòng tranh này, không thể không nhắc đến nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đăng Chế - người được coi là “cây đại thụ” của làng tranh Đông Hồ. Sinh ra và lớn lên tại chính mảnh đất này, ông dành trọn đời mình cho việc sưu tầm, phục dựng và truyền dạy nghề làm tranh cổ truyền. Khi nhiều gia đình trong làng đã chuyển sang nghề khác để mưu sinh, ông vẫn lặng lẽ bám trụ với nghề, lưu giữ hàng trăm bản khắc gỗ cổ, phục dựng lại kỹ thuật làm tranh nguyên gốc đã từng đứng trước nguy cơ thất truyền.
Chia sẻ sau khi tranh Đông Hồ được UNESCO ghi danh, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế bày tỏ niềm vui xen lẫn trăn trở: “Tôi mừng vì tranh Đông Hồ đã được thế giới biết đến nhiều hơn, nhưng cũng lo vì nếu chỉ dừng ở danh hiệu thì chưa đủ. Di sản sống được hay không là nhờ người làm nghề, nhờ thế hệ trẻ có còn yêu và theo nghề hay không”.
Cùng chung tâm huyết ấy, nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả - một trong những người kế cận tiêu biểu của làng tranh Đông Hồ đang miệt mài tìm cách đưa tranh dân gian đến gần hơn với công chúng trẻ. Không chỉ thực hành kỹ thuật in tranh truyền thống, ông còn tích cực tham gia các hoạt động trình diễn, giới thiệu nghề tại trường học, không gian văn hóa và các sự kiện giao lưu trong và ngoài nước. Với ông, mỗi bức tranh không đơn thuần là sản phẩm mỹ thuật, mà là câu chuyện văn hóa, là ký ức tập thể của làng quê Bắc Bộ.
Nói về dấu mốc được UNESCO ghi danh, nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả nhìn nhận: “Danh hiệu này giống như một lời nhắc nhở chúng ta rằng nếu không hành động kịp thời, tranh Đông Hồ có thể chỉ còn trong sách vở. Nhưng nó cũng tạo thêm động lực để nghệ nhân mạnh dạn hơn, sáng tạo hơn, miễn là vẫn giữ được hồn cốt dân gian”. Theo ông, bảo tồn và phát triển phải song hành, tránh việc “đóng khung” di sản trong quá khứ.
![]() |
| Đưa tranh dân gian Đông Hồ đến gần hơn với công chúng trẻ. |
Thực tế cho thấy, sau khi được công nhận, tranh Đông Hồ đã nhận được sự quan tâm lớn hơn từ xã hội. Nét mộc mạc, hình khối đơn giản nhưng hàm chứa triết lý sâu sắc của tranh Đông Hồ đang trở thành nguồn cảm hứng cho các nhà thiết kế, nghệ sĩ trẻ trong những sáng tạo đương đại.
Từ những bản khắc gỗ cũ kỹ đến những lớp học trải nghiệm cho học sinh, từ không gian làng quê Bắc Ninh đến các triển lãm trong và ngoài nước, tranh Đông Hồ đang từng bước được hồi sinh. Danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp không phải là điểm kết thúc, mà là khởi đầu cho một hành trình gìn giữ bản sắc trong dòng chảy hội nhập. Và trên hành trình ấy, hình ảnh những nghệ nhân lặng lẽ bên bàn in tranh, kiên trì với màu giấy điệp, mùi hồ nếp, chính là minh chứng sống động cho sức bền bỉ và khả năng hồi sinh của văn hóa Việt.
Phương Thảo - Nguyễn Hiệp
-
Phú Quý “đánh thức” vị Thần Tài trong tranh dân gian Đông Hồ
-
Giải chạy biểu trưng của Thủ đô, kết nối cộng đồng, tôn vinh giá trị di sản - văn hóa
-
UNESCO đề xuất cách giảm tiêu thụ năng lượng của AI
-
Hội Lim (Bắc Ninh) được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
-
Trình UNESCO công nhận Địa đạo Củ Chi là Di sản Thế giới






