Tin tức kinh tế ngày 13/4: Doanh nghiệp thủy sản kiến nghị gói tín dụng 10.000 tỉ đồng

21:16 | 13/04/2023

4,286 lượt xem
Theo dõi PetroTimes trên
|
(PetroTimes) - Nửa cuối tháng 3/2023, cán cân thương mại thặng dư 1,98 tỉ USD; Giá phân bón chạm đáy 2 năm; Doanh nghiệp thủy sản kiến nghị gói tín dụng 10.000 tỉ đồng… là những tin tức kinh tế đáng chú ý ngày 13/4.
Tin tức kinh tế ngày 13/4: Doanh nghiệp thủy sản kiến nghị gói tín dụng 10.000 tỉ đồng
Doanh nghiệp thủy sản kiến nghị gói tín dụng 10.000 tỉ đồng lãi suất thấp (Ảnh minh họa)

Giá vàng thế giới tăng vọt

Giá vàng thế giới rạng sáng hôm nay tiếp đà tăng với vàng giao ngay tăng 10,4 USD lên mức 2.014 USD/ounce.

Tại thị trường trong nước, trước giờ mở cửa phiên giao dịch sáng nay 13/4, Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết ở mức 66,40 - 67,00 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), chưa đổi giá hai chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch trước.

Tập đoàn Doji niêm yết giá vàng SJC ở mức 66,40 - 67,00 triệu đồng/lượng, chưa đổi giá cả hai chiều.

Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý niêm yết giá vàng SJC 66,45 - 67,05 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Vàng Vietinbank Gold đang thu mua mức 66,4 triệu đồng/lượng và bán ra mức 67,02 triệu đồng/lượng.

Nhật Bản là khách hàng nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, Nhật Bản đã vượt Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của thủy sản Việt Nam, mặc dù xuất khẩu sang thị trường này giảm 11%, đạt trên 310 triệu USD trong quý I/2023.

Xuất khẩu thủy sản sang Nhật Bản giảm mạnh ở một số mặt hàng chủ lực: tôm chân trắng giảm 35%, cá hồi giảm 4%, bạch tuộc giảm 6%... Xuất khẩu sang Nhật Bản tăng chủ yếu là các mặt hàng hải sản khai thác: mực, cá nục, cá minh thái, cá ngừ, cá sòng tăng từ 13-88%...

Mỹ đã mất vị trí số 1 về nhập khẩu thủy sản Việt Nam vì giảm mạnh nhất trong Top thị trường xuất khẩu, với mức giảm 50%, chỉ đạt khoảng 290 triệu USD.

Nửa cuối tháng 3/2023, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 1,98 tỉ USD

Chiều 13/4/2023, Tổng cục Hải quan công bố số liệu xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong nửa cuối tháng 3/2023 (từ ngày 16/3 đến ngày 31/3/2023).

Cụ thể, về xuất khẩu, trong kỳ 2 tháng 3/2023 đạt 16,38 tỉ USD, tăng 22,8% (tương ứng tăng 3,05 tỉ USD về số tuyệt đối) so với kỳ 1 tháng 3/2023.

Ở chiều ngược lại, trị giá hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 2 tháng 3/2023 đạt 14,4 tỉ USD, tăng 4,2% (tương ứng tăng 576 triệu USD về số tuyệt đối) so với kết quả thực hiện trong nửa đầu tháng 3/2023.

Với kết quả này, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 1,98 tỉ USD.

Doanh nghiệp thủy sản kiến nghị gói tín dụng 10.000 tỉ đồng

Để giúp xuất khẩu thủy sản vượt qua khó khăn, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) kiến nghị Thủ tướng hàng loạt giải pháp, trong đó đề xuất gói tín dụng 10.000 tỉ đồng với lãi suất thấp.

Đồng thời đề xuất Ngân hàng Nhà nước xem xét điều chỉnh lãi suất vay USD xuống dưới 4% để hỗ trợ cho doanh nghiệp; cho các doanh nghiệp thủy sản được giãn nợ 3-5 tháng cho các khoản vay đến hạn phải trả trong quý I và II/2023; tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất 2%.

Giá phân bón chạm đáy 2 năm

Nếu lấy mốc đỉnh điểm hồi năm ngoái, thời điểm đầu vụ giá phân bón mới giảm nhẹ 20 - 30%, hiện nay giảm đến 30 - 50% tùy loại. Điều này giúp nông dân thở phào nhẹ nhõm khi giảm bớt gánh nặng về chi phí đầu vào.

Theo các doanh nghiệp sản xuất phân bón, nguyên nhân chủ yếu do các nhà sản xuất ở châu Âu mở rộng sản xuất nhờ giá nguyên, nhiên liệu đầu vào giảm khi nguồn khí đốt tự nhiên và nhập khẩu LNG dồi dào. Bên cạnh đó, nguồn cung có xu hướng gia tăng trở lại sau khi Trung Quốc bãi bỏ lệnh cấm xuất khẩu cũng ảnh hưởng đến diễn biến giá các loại phân bón.

Quý I/2023, xuất khẩu lao động tăng hơn 15 lần

Cục Quản lý lao động ngoài nước cho biết, theo số liệu báo cáo từ các doanh nghiệp, tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài trong tháng 3/2023 là 9.494 lao động (3.420 lao động nữ), gấp hơn 8 lần (8,66 lần) so với cùng kỳ năm ngoái (tháng 3/2022 là 1.096 lao động, trong đó có 319 lao động nữ).

Tính chung 3 tháng đầu năm 2023, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 37.923 lao động (12.872 lao động nữ), đạt 34,48% kế hoạch năm 2023, (năm 2023, dự tính kế hoạch đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là từ 110.000 lao động) và gấp hơn 15 lần (15,45 lần) so với cùng kỳ năm ngoái (3 tháng đầu năm 2022, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 2.455 lao động).

Tin tức kinh tế ngày 12/4: Doanh nghiệp phải vay tín dụng

Tin tức kinh tế ngày 12/4: Doanh nghiệp phải vay tín dụng "đen" tăng mạnh

Doanh nghiệp phải vay tín dụng đen tăng mạnh; Ô tô nhập khẩu từ Trung Quốc tăng đột biến; Giá gạo xuất khẩu tăng cao nhất 10 năm qua… là những tin tức kinh tế đáng chú ý ngày 12/4.

P.V (t/h)

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 77,500 79,500
AVPL/SJC HCM 77,500 79,500
AVPL/SJC ĐN 77,500 79,500
Nguyên liệu 9999 - HN 75,700 ▲150K 76,300 ▲100K
Nguyên liệu 999 - HN 75,600 ▲150K 76,200 ▲100K
AVPL/SJC Cần Thơ 77,500 79,500
Cập nhật: 24/07/2024 17:00
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 75.850 ▲30K 77.210 ▲40K
TPHCM - SJC 77.500 79.500
Hà Nội - PNJ 75.850 ▲30K 77.210 ▲40K
Hà Nội - SJC 77.500 79.500
Đà Nẵng - PNJ 75.850 ▲30K 77.210 ▲40K
Đà Nẵng - SJC 77.500 79.500
Miền Tây - PNJ 75.850 ▲30K 77.210 ▲40K
Miền Tây - SJC 77.500 79.500
Giá vàng nữ trang - PNJ 75.850 ▲30K 77.210 ▲40K
Giá vàng nữ trang - SJC 77.500 79.500
Giá vàng nữ trang - Đông Nam Bộ PNJ 75.850 ▲30K
Giá vàng nữ trang - SJC 77.500 79.500
Giá vàng nữ trang - Giá vàng nữ trang Nhẫn PNJ (24K) 75.850 ▲30K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 75.800 ▲100K 76.600 ▲100K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 56.200 ▲70K 57.600 ▲70K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 43.560 ▲60K 44.960 ▲60K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 30.620 ▲50K 32.020 ▲50K
Cập nhật: 24/07/2024 17:00
AJC Mua vào Bán ra
Trang sức 99.99 7,490 ▲10K 7,685 ▲10K
Trang sức 99.9 7,480 ▲10K 7,675 ▲10K
NL 99.99 7,495 ▲10K
Nhẫn tròn k ép vỉ T.Bình 7,495 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 7,595 ▲10K 7,725 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 7,595 ▲10K 7,725 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 7,595 ▲10K 7,725 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 7,750 7,950
Miếng SJC Nghệ An 7,750 7,950
Miếng SJC Hà Nội 7,750 7,950
Cập nhật: 24/07/2024 17:00
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L, 1KG 77,500 79,500
SJC 5c 77,500 79,520
SJC 2c, 1C, 5 phân 77,500 79,530
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 75,800 ▲100K 77,200 ▲100K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.3 chỉ, 0.5 chỉ 75,800 ▲100K 77,300 ▲100K
Nữ Trang 99.99% 75,700 ▲100K 76,800 ▲100K
Nữ Trang 99% 74,040 ▲99K 76,040 ▲99K
Nữ Trang 68% 49,879 ▲68K 52,379 ▲68K
Nữ Trang 41.7% 29,679 ▲42K 32,179 ▲42K
Cập nhật: 24/07/2024 17:00

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,335.01 16,500.01 17,029.38
CAD 17,937.91 18,119.10 18,700.41
CHF 27,728.63 28,008.71 28,907.31
CNY 3,415.63 3,450.13 3,561.36
DKK - 3,619.97 3,758.60
EUR 26,811.37 27,082.19 28,281.52
GBP 31,871.56 32,193.50 33,226.36
HKD 3,166.38 3,198.36 3,300.97
INR - 302.22 314.30
JPY 157.81 159.41 167.03
KRW 15.82 17.58 19.17
KWD - 82,786.00 86,095.81
MYR - 5,371.07 5,488.22
NOK - 2,254.97 2,350.71
RUB - 274.83 304.24
SAR - 6,744.53 7,014.18
SEK - 2,306.43 2,404.36
SGD 18,375.16 18,560.77 19,156.25
THB 620.13 689.04 715.42
USD 25,147.00 25,177.00 25,477.00
Cập nhật: 24/07/2024 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,180.00 25,197.00 25,477.00
EUR 26,978.00 27,086.00 28,221.00
GBP 32,034.00 32,227.00 33,198.00
HKD 3,183.00 3,196.00 3,300.00
CHF 27,900.00 28,012.00 28,882.00
JPY 159.14 159.78 167.32
AUD 16,458.00 16,524.00 17,019.00
SGD 18,504.00 18,578.00 19,124.00
THB 684.00 687.00 715.00
CAD 18,066.00 18,139.00 18,665.00
NZD 14,833.00 15,327.00
KRW 17.54 19.15
Cập nhật: 24/07/2024 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25190 25190 25477
AUD 16550 16600 17103
CAD 18198 18248 18700
CHF 28191 28241 28794
CNY 0 3452.6 0
CZK 0 1047 0
DKK 0 3636 0
EUR 27257 27307 28267
GBP 32451 32501 33161
HKD 0 3265 0
JPY 161.31 161.81 166.32
KHR 0 6.2261 0
KRW 0 18.1 0
LAK 0 0.9712 0
MYR 0 5565 0
NOK 0 2380 0
NZD 0 14852 0
PHP 0 408 0
SEK 0 2400 0
SGD 18655 18705 19256
THB 0 661.9 0
TWD 0 780 0
XAU 7750000 7750000 7950000
XBJ 7150000 7150000 7610000
Cập nhật: 24/07/2024 17:00