Thứ ba 10/12/2019 14:57

Tăng trưởng mạnh xuất khẩu mực, bạch tuộc Việt Nam sang Mỹ

15:03 | 14/11/2019

|
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), 9 tháng đầu năm nay, xuất khẩu (XK) mực, bạch tuộc Việt Nam sang Mỹ liên tục tăng trưởng cao, đạt 11,4 triệu USD, tăng 63,7% so với cùng kỳ năm 2018.    
tang truong manh xuat khau muc bach tuoc viet nam sang myXuất khẩu mực, bạch tuộc sụt giảm đáng kể tại các thị trường chính
tang truong manh xuat khau muc bach tuoc viet nam sang myXuất khẩu mực, bạch tuộc sang Hà Lan tăng trưởng tốt

Mỹ hiện là thị trường nhập khẩu (NK) mực, bạch tuộc lớn thứ 6 của Việt Nam, chiếm 2,7% tổng giá trị XK mặt hàng này của Việt Nam đi các thị trường. Tính đến tháng 9 năm nay, XK mực, bạch tuộc Việt Nam sang Mỹ liên tục đạt các mức tăng trưởng dương từ 2 đến 3 con số. Đáng chú ý, tăng trưởng trong tháng 4 và tháng 9 đạt trên 100%.

9 tháng đầu năm nay, Mỹ là thị trường duy nhất trong top 6 thị trường NK chính ghi nhận mức tăng trưởng dương. Cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung leo thang, Mỹ tăng thuế 30% đối với một số sản phẩm mực, bạch tuộc NK từ Trung Quốc, tạo thêm cơ hội cho các DN XK mực, bạch tuộc của Việt Nam sang Mỹ.

tang truong manh xuat khau muc bach tuoc viet nam sang my
Ảnh minh họa

Mỹ NK từ Việt Nam các sản phẩm mực nhiều hơn bạch tuộc. Các sản phẩm chính mực, bạch tuộc XK từ Việt Nam sang Mỹ gồm mực sấy, mực khô, mực tẩm gia vị, mực rim, mực nang đông lạnh, bạch tuộc nguyên con làm sạch đông lạnh, bạch tuộc chế biến đông lạnh.

Theo số liệu của ITC, NK mực, bạch tuộc của Mỹ 8 tháng đầu năm nay giảm 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Tây Ban Nha là nguồn cung mực, bạch tuộc lớn nhất cho Mỹ, chiếm 27% tổng giá trị NK mực, bạch tuộc vào thị trường này, Trung Quốc đứng thứ hai, chiếm 25%. Việt Nam đứng thứ 10 về cung cấp mực, bạch tuộc cho Mỹ, chiếm thị phần 3,3%.

Kim Thu

  • bidv-29-6-2018
  • pvp-ctcp
viet nam moi thien ve giam sat ma chua chu trong ve danh gia trong kinh te nong nghiep

Việt Nam mới “thiên” về giám sát mà chưa chú trọng về đánh giá trong kinh tế nông nghiệp

Việt Nam chỉ thiên về giám sát mà chưa chú trọng công tác đánh giá và mới tập trung vào các dự án trọng điểm thuộc khu vực công, còn khu vực tư nhân bị bỏ ngỏ.