Phân bổ quy hoạch không gian biển cần giảm chồng lấn trong khai thác tài nguyên
![]() |
| Khẩn trương xây dựng và hoàn thành các hợp phần tích hợp vào Quy hoạch không gian biển quốc gia |
Bảo tồn biển phải gắn với phát triển kinh tế biển xanh
Tại Hội thảo "Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững" ngày 5/6, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam cho rằng, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cần được tiếp cận theo hướng quản trị biển hiện đại, trong đó gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và quy hoạch không gian biển.
Ông cho biết Việt Nam đã đặt nền tảng cho phát triển kinh tế biển xanh thông qua Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia và nhiều chương trình hành động liên quan trong những năm qua. Trong đó, các hệ sinh thái biển và ven biển đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển bền vững của các ngành kinh tế biển.
Theo ông Hồi, Việt Nam cũng đã tham gia nhiều cam kết quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học biển. Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, diện tích các khu bảo tồn biển và ven biển đạt khoảng 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia.
“Tuy nhiên, nếu chỉ tiếp cận theo mô hình khu bảo tồn biển truyền thống thì sẽ rất khó đạt được mục tiêu này. Chúng ta cần nhìn rộng hơn, không chỉ là các khu bảo tồn biển mà còn bao gồm các khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, khu bảo tồn giống loài thủy sinh và các hình thức bảo tồn khác đang tồn tại trong thực tiễn", ông Hồi nhấn mạnh.
Theo vị chuyên gia này, nhiều quốc gia hiện đang áp dụng khái niệm OECM (Các biện pháp bảo tồn hiệu quả dựa trên khu vực ngoài hệ thống khu bảo tồn chính thức), tức những khu vực được quản lý bằng các hình thức khác nhau nhưng vẫn mang lại hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học. Đây có thể là kinh nghiệm phù hợp để Việt Nam nghiên cứu bổ sung vào dự thảo luật cũng như các quy hoạch biển trong tương lai.
Việc bảo tồn biển không nên chỉ chạy theo chỉ tiêu diện tích mà cần hướng đến mục tiêu quan trọng hơn là phục hồi hệ sinh thái và nguồn lợi sinh vật biển. Khu bảo tồn biển nếu được quản lý hiệu quả sẽ tạo hiệu ứng phát tán nguồn lợi ra khu vực xung quanh, góp phần phục hồi hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản cho cả vùng biển lân cận.
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Chu Hồi (bên phải) - Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam: Cần tiếp tục hoàn thiện công cụ quy hoạch không gian biển để phân bổ hợp lý các hoạt động kinh tế trên biển, tránh tình trạng chồng lấn hoặc xung đột giữa nuôi biển, du lịch, bảo tồn, năng lượng tái tạo ngoài khơi và giao thông hàng hải. |
Tránh xung đột trong khai thác không gian biển
Liên quan đến phát triển nuôi biển, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng cần phân biệt rõ giữa nuôi biển ven bờ quy mô nhỏ với nuôi biển công nghiệp ngoài khơi. Theo ông, nuôi biển xa bờ là ngành kinh tế đòi hỏi trình độ công nghệ cao, vốn đầu tư lớn và hệ thống quản lý chuyên nghiệp. Vì vậy, không thể chỉ giao khu vực biển cho người dân rồi để tự phát triển.
Dẫn kinh nghiệm từ Khánh Hòa - địa phương đã triển khai thí điểm mô hình nuôi biển công nghiệp từ nhiều năm trước, ông Hồi cho biết chi phí đầu tư ban đầu rất lớn, yêu cầu kỹ thuật khắt khe và cần hệ thống hỗ trợ đồng bộ từ hạ tầng, công nghệ đến quản lý môi trường.
Do đó, cần sớm xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật đầy đủ cho ngành nuôi biển công nghiệp, bao gồm quy định về công nghệ, mật độ nuôi, thức ăn, quan trắc môi trường và kiểm soát tác động sinh thái.
Đặc biệt, ông cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện công cụ quy hoạch không gian biển để phân bổ hợp lý các hoạt động kinh tế trên biển, tránh tình trạng chồng lấn hoặc xung đột giữa nuôi biển, du lịch, bảo tồn, năng lượng tái tạo ngoài khơi và giao thông hàng hải.
Ở góc độ quốc tế, ông Hoàng Thành Vĩnh, cán bộ Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam, cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở chủ trương mà ở khâu triển khai thực hiện tại địa phương.
Theo ông, UNDP đã phối hợp với 12 địa phương ven biển triển khai thí điểm phân vùng biển dựa trên quy hoạch tổng thể. Tuy nhiên, nhiều địa phương vẫn gặp khó khăn trong việc tổ chức thực hiện do thiếu hướng dẫn cụ thể và hạn chế về năng lực quản lý. Do đó, cần xây dựng cơ chế điều phối hiệu quả để xử lý các xung đột trong khai thác và sử dụng không gian biển giữa các ngành như thủy sản, du lịch, bảo tồn và phát triển hạ tầng.
Dẫn kinh nghiệm của Na Uy, ông cho biết quốc gia này đã xây dựng mô hình "nền tảng điều phối" gồm ban chỉ đạo cấp bộ, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn và nhóm chuyên gia liên ngành hoạt động thường xuyên để giải quyết các vấn đề phát sinh.
"Ngay cả khi đã phân vùng chức năng rõ ràng, các xung đột vẫn có thể xảy ra do những tác động liên vùng giữa các hệ sinh thái biển. Vì vậy cần có cơ chế điều phối liên tục và linh hoạt", ông Vĩnh nhận định.
Tại hội thảo, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản cho rằng những vướng mắc liên quan đến phân vùng biển, quy hoạch không gian biển và tiếp cận nguồn lực đang trở thành các điểm nghẽn lớn đối với mục tiêu phát triển kinh tế biển trong giai đoạn mới. Theo ông, khi Việt Nam hướng tới tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế biển bền vững, yêu cầu đặt ra là phải có cách tiếp cận đột phá hơn trong hoàn thiện thể chế và chính sách quản lý biển.
Diệu Phương

