Ký ức về 9h30 phút sáng ngày 26/6/1986
Ông là một trong số rất ít người Việt Nam có mặt trên giàn MSP-1 được chứng kiến giờ phút lịch sử 9h30 ngày 26/6/1986.
***
Bốn mươi năm đã trôi qua kể từ buổi sáng lịch sử ấy.
Ngày 26 tháng 6 năm 1986, lúc 9 giờ 30 phút, trên giàn khai thác MSP-1 mỏ Bạch Hổ giữa biển khơi, dòng dầu thương mại đầu tiên của Việt Nam đã phun lên từ lòng đất mẹ. Đó không chỉ là một sự kiện kỹ thuật của ngành dầu khí. Đó là một thời khắc thiêng liêng, đánh dấu bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển kinh tế đất nước, mở ra một kỷ nguyên mới cho ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam.
![]() |
| TS Ngô Hữu Hải |
Bốn mươi năm sau, khi gặp lại Tiến sĩ Ngô Hữu Hải, người từng trực tiếp có mặt trên giàn MSP-1, vào đúng thời khắc lịch sử ấy, chúng tôi vẫn cảm nhận rất rõ niềm xúc động trong ánh mắt ông.
Ngày đó, Ngô Hữu Hải là một công nhân khai thác dầu khí bậc 4/6 thuộc đội khai thác dầu khí của Liên doanh Vietsovpetro. Một chàng trai trẻ xứ Nghệ mới bước vào nghề, sống và làm việc giữa trùng khơi trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn, nhưng mang trong mình khát vọng cháy bỏng của thế hệ những người dầu khí đầu tiên.
Ba ngày nghẹt thở trên giàn MSP-1
Tháng 6 năm 1986, đất nước ta còn muôn vàn khó khăn. Nền kinh tế vừa bước vào công cuộc Đổi mới, nguồn ngoại tệ vô cùng khan hiếm, đất nước vẫn trong vòng bao vây cấm vận. Trong bối cảnh ấy, từng thùng dầu khai thác được từ thềm lục địa Việt Nam mang ý nghĩa không chỉ về kinh tế, mà còn là niềm tin, là khát vọng vươn lên của cả dân tộc.
Trước ngày 26/6/1986, một chuyến trực thăng Mi-8 đặc biệt đã đưa lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo Tổng cục Dầu khí, lãnh đạo Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro cùng các phóng viên ra giàn MSP-1 mỏ Bạch Hổ để chứng kiến thời khắc Việt Nam bắt đầu khai thác dòng dầu thương mại đầu tiên từ giếng BH-1X.
Thế nhưng, niềm vui đã không đến ngay.
Sau khi khoan xong, các chuyên gia Việt Nam và Liên Xô tiến hành các công việc kỹ thuật để chuẩn bị “gọi dòng” sản phẩm đưa giếng vào khai thác. Ngô Hữu Hải khi đó đặc biệt quan tâm đến công nghệ gọi dòng dầu khí, bởi luận án tốt nghiệp đại học của ông cũng gắn với đề tài lập phương án gọi dòng sản phẩm cho các giếng dầu khí. Sau này, ông trở thành một trong những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này.
“Nhưng trong suốt ba ngày, dù làm việc không ngơi nghỉ, dù nhiều phương án kỹ thuật đã được triển khai, dòng dầu công nghiệp vẫn chưa xuất hiện. Từ lòng giếng chỉ có những váng dầu mỏng nổi lên - một tín hiệu vừa gieo hy vọng, vừa khiến mọi người thêm thấp thỏm.
Trên giàn MSP-1, nhiều cuộc họp kỹ thuật căng thẳng liên tục diễn ra giữa các kỹ sư Việt Nam và chuyên gia Liên Xô. Tất cả cùng đi tìm lời giải cho câu hỏi: Vì sao các thông số khi khoan đều cho thấy tầng chứa có biểu hiện dầu khí tốt, nhưng dòng dầu thương mại vẫn chưa lên?
Chiều ngày 25 tháng 6 năm 1986, sau một cuộc họp kỹ thuật đặc biệt căng thẳng ngay trên giàn, lãnh đạo Vietsovpetro, trong đó có ông Ngô Thường San - khi đó là Phó Tổng Giám đốc phụ trách địa chất - đã quyết định tiến hành trám cốc xi măng ngăn cách tầng đá móng với các vỉa dầu khác, sau đó chuyển sang bắn mở vỉa dầu Miocen ở độ sâu khoảng 3.200m.
Buổi tối là trám xi măng (nguyên tắc gọi dòng không làm buổi tối để tránh cháy nổ, thường gọi vào buổi sáng); buổi sáng giao ca xong thì nhận nhiệm vụ chuẩn bị bắn vỉa, gọi dòng, công tác chuẩn bị thu gom đều suôn sẻ. 7h sáng họp giao ban xong, 7h30 bắt đầu bắn vỉa với dây mìn 30-50m tùy loại, thay dung dịch 9h15-9h25 thấy áp suất tăng dần từ 5-10 atm, sau đó là 20 atm, nhiệt độ Miocene khoảng 130°C, với độ sâu khoảng 3.800m, vào móng khoảng 4.200m.
Lúc này nhiệt độ bắt đầu tăng lên. Bình thường chỉ 35-40-50-70°C thì bắt đầu nghe tiếng “lóc cóc” trong đường ống; tôi hỏi đốc công người Azerbaijan là tiếng gì, họ bảo tiếng đất đá và yêu cầu tôi đi báo mọi người đi, chắc dầu đang lên. Lúc này các lãnh đạo và kỹ sư, công nhân lục tục xuống.
Chúng tôi đứng sau côn khai thác có một cái vòi và xô để lấy mẫu, một lúc thấy “xùy xùy” khí, sau thì thấy một dòng dung dịch lẫn thứ gì đen đen, sóng sánh chảy ra. Tôi hỏi đốc công: “Cái gì thế?”; anh đốc công nhìn tôi và bảo: “Dầu Việt Nam, dầu thô Việt Nam của các anh đấy!”.
Đến 9h30, dầu lên ào ào, chúng tôi đưa vào hệ thống thu gom ngay. Lúc này giàn trưởng quyết định đưa khí lên phaken và tiến hành đốt phaken (Flaring).
Hôm đó, tôi nhớ có anh Nguyễn Quốc Trung (Xưởng phó xưởng khai thác), xưởng trưởng là người Nga cùng anh Nguyễn Thúc Khang (Đốc công). Anh Trung được công an cấp giấy phép mang 1 khẩu súng và 5 quả pháo hiệu của hải quân để bắn mồi phaken (do phaken rất nóng, lên tới 45°C), anh Trung bắn 2 quả không cháy, anh giàn trưởng bắn 1 quả, anh Khang cũng bắn nhưng không trúng.
Lúc đó chúng tôi chưa có kinh nghiệm cách đốt phaken. Có một anh công nhân nước ngoài, công nhân khai thác dầu bậc 6/6, cao đến 2m, bảo “để tôi đốt”. Tôi nhớ mãi hình ảnh ấy, anh công nhân đi lên rất từ tốn, đốt phaken “bùng” một tiếng, anh giật mình. Như phản xạ bình thường thì khi giật mình ta sẽ buông tay, nhưng anh công nhân nước ngoài này là người có kinh nghiệm, biết rằng nếu buông tay thì rất nguy hiểm, nên anh vẫn giữ trên tay, và cho rơi bùi nhùi xuống biển.
![]() |
| Một công nhân Nga ở Vietsovpetro. |
Một tiếng nổ vang lên giữa không gian mênh mông. Ngọn lửa phaken bùng cháy rực sáng giữa biển trời. Quả cầu lửa đỏ rực vươn lên trên đỉnh giàn MSP-1 như một ngọn đuốc khổng lồ.
Khi ngọn lửa bùng lên trên đuốc phaken, cả giàn MSP-1 như vỡ òa.
Tất cả những công việc không cấp thiết tạm dừng lại. Những kỹ sư vừa làm ca đêm đang ngủ trong các vagon, container trên giàn cũng vùng dậy, tung chăn chạy ra boong. Anh em từ các block số 1, số 2 chạy dồn về phía có thể nhìn rõ ngọn lửa.
Các tàu dịch vụ hoạt động quanh khu vực quay mũi hướng về giàn MSP-1. Những chiếc trực thăng đổi ca cũng chỉnh lại hướng bay để chứng kiến ngọn lửa kỳ diệu đang bừng cháy giữa biển khơi.
Các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam ôm chầm lấy nhau. Có người cười vang. Có người lặng đi. Có người rưng rưng nước mắt.
Giữa khoảnh khắc ấy, mọi ranh giới ngôn ngữ, quốc tịch, chức vụ dường như tan biến. Chỉ còn lại niềm hạnh phúc chung của những người thợ dầu khí đã cùng nhau đi qua những ngày tháng gian nan để chạm vào giấc mơ lớn.
Anh em công nhân tranh nhau dùng tay không nhúng vào thùng dầu thô còn nóng hổi. Họ đưa lên ngắm, đưa lên ngửi, thậm chí nếm thử để biết dầu “Made in Vietnam” có mùi vị như thế nào. Nhiều người xúc động quá đã lấy dầu bôi lên quần áo, bôi lên mặt, như một cách ghi dấu khoảnh khắc không bao giờ lặp lại trong đời.
Đó là lần đầu tiên họ được nhìn thấy, được chạm vào, được ngửi thấy dòng “vàng đen” của chính Tổ quốc mình.
Lúc ấy, khi được thông báo, các công nhân kỹ sư trong ca hay đang được nghỉ cũng chạy ùa ra xem, xem ngọn lửa rồi xem thùng dầu, thò tay để ngửi, để nếm…
Chúng tôi học dầu khí, trong trường, thầy Trương Biên (trường Đại học Mỏ Địa chất) đã từng nói dầu là “vàng đen”, có màu đen. Nhưng trong đời đi làm, tôi đã từng thấy dầu màu vàng óng ánh (Hoàn Vũ JOC), dầu màu xanh ngọc bích saphire (mỏ Tê Giác Đen), dầu màu nâu (Algeria), dầu kẹo kéo (Venezuela)...
Quay lại thời điểm ấy, mọi người rất xúc động bất ngờ, lấy tay trần chạm thẳng vào dầu (nhiệt độ 60-70°C) bôi lên mặt, lên quần áo làm kỷ niệm. Sau giây phút ấy, mỗi người lấy chai nước suối lấy mẫu dầu làm kỷ niệm và đến giờ tôi vẫn giữ mẫu dầu này. Hiện tôi có bộ sưu tập gồm hơn 40 mẫu dầu của các giếng, các mỏ khác nhau trong đó có mỏ ở Venezuela. Và tôi có thể là một trong số ít người giữ được mẫu dầu tại Venezuela, bởi mang mẫu dầu đi máy bay rất khó, phải chia nhỏ ra để trong vali”.
Chai dầu thô trên bàn làm việc
Bốn mươi năm sau, khi kể lại câu chuyện trên, Tiến sĩ Ngô Hữu Hải vẫn giữ giọng trầm xúc động. Rồi ông nhẹ nhàng chỉ về phía bàn làm việc.
Ở đó, một chai dầu thô nhỏ vẫn được ông nâng niu gìn giữ như báu vật.
Đó là chai dầu được lấy từ dòng dầu đầu tiên ngày 26/6/1986 trên giàn MSP-1.
Suốt bốn mươi năm, qua bao lần thay đổi nơi ở, nơi làm việc, từ người công nhân khai thác dầu khí bậc 4/6 đến giàn trưởng, chánh kỹ sư, Giám đốc Xí nghiệp Đại Hùng, Tổng Giám đốc Hoàng Long - Hoàn Vũ JOC, Tổng Giám đốc PVEP, Tổng Giám đốc BIENDONG POC, chai dầu ấy vẫn ở bên ông.
Nó không chỉ là một kỷ vật.
Nó là chứng nhân của tuổi trẻ.
Là dấu mốc của một đời người.
Là biểu tượng của một thời khắc lịch sử mà ông may mắn được có mặt.
Ông kể, ngày ấy với chức danh công nhân bậc 4/6, anh em công nhân sống trong những vagon, container trên giàn khoan. Điều kiện thiếu thốn, không gian chật hẹp, sóng gió, nắng nóng, xa đất liền, xa gia đình. Nhưng trong ký ức của ông, đó vẫn là những năm tháng rất đẹp.
“Khó khăn đấy, nhưng vui và yêu nghề dầu khí lắm”, ông nói.
Sau sự kiện Bạch Hổ, ông tiếp tục có mặt trong nhiều dấu mốc quan trọng khác của ngành dầu khí Việt Nam. Ông trực tiếp chứng kiến sự kiện tìm thấy và khai thác dầu trong tầng đá móng mỏ Bạch Hổ ngày 6/9/1988 - một kỳ tích làm thay đổi nhận thức địa chất dầu khí thế giới.
Sau này, ông tiếp tục tham gia và lãnh đạo nhiều dự án lớn: mỏ Đại Hùng, mỏ Cá Ngừ Vàng, mỏ Tê Giác Trắng, mỏ Bir Seba ở Algeria, cụm mỏ Hải Thạch - Mộc Tinh thuộc Dự án Biển Đông 01…
![]() |
| Kéo cờ Nga và Việt Nam trên một giàn khai thác của Liên doanh Vietsovpetro. |
Về sau này, những người có mặt trên giàn MSP-1 hôm ấy mới hiểu hết ý nghĩa lớn lao của dòng dầu thương mại đầu tiên.
Những thùng dầu đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ không chỉ mang lại nguồn ngoại tệ quý giá trong những năm đất nước còn bị bao vây cấm vận, mà còn góp phần quan trọng củng cố niềm tin vào ngành dầu khí non trẻ của Việt Nam, giúp Liên doanh Vietsovpetro đứng vững và phát triển.
Từ Bạch Hổ, Việt Nam từng bước khẳng định năng lực tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí trên thềm lục địa của mình. Từ dòng dầu đầu tiên ấy, ngành dầu khí Việt Nam đã trưởng thành, trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, đóng góp to lớn cho ngân sách, cho an ninh năng lượng và cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Mỏ Bạch Hổ không chỉ là một mỏ dầu.
Bạch Hổ là biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng Việt Nam.
Là nơi những người dầu khí Việt Nam và Liên Xô đã cùng nhau viết nên một chương sử đặc biệt giữa biển khơi.
Với Tiến sĩ Ngô Hữu Hải, đó là một ký ức không bao giờ cũ.
Chai dầu ấy nhắc ông nhớ về những năm tháng ngủ trong vagon, container giữa biển khơi. Nhớ những ca làm việc 12 giờ dưới nắng gió. Nhớ những người đồng đội Việt Nam và Liên Xô đã ôm chầm lấy nhau khi ngọn lửa phaken bùng cháy. Nhớ lần đầu tiên trong đời được nhìn thấy, ngửi thấy, nếm thử và xoa lên mặt dòng dầu thô của Tổ quốc.
Và có lẽ, chai dầu ấy cũng nhắc nhở các thế hệ hôm nay rằng: mọi thành tựu lớn lao của đất nước đều bắt đầu từ những con người bình dị, từ những giọt mồ hôi âm thầm, từ những ngày tháng gian khổ mà đầy niềm tin.
Tiến sĩ Ngô Hữu Hải từng nói: “Không nước sâu, không gió to, không sóng lớn sẽ chẳng còn là biển cả. Không vất vả, không khổ đau, không đắng cay thì chẳng phải là người thành đạt”.
Nguyễn Như Phong



