IIP giảm mạnh do ảnh hưởng của dịch Covid-19

11:23 | 02/08/2021

|
(PetroTimes) - Hoạt động sản xuất công nghiệp tiếp tục gặp nhiều khó khăn. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 7/2021 chỉ tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất trong 7 tháng qua.

Trong 7 tháng năm 2021, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến rất nhanh, phức tạp và khó lường, yếu tố thuận lợi và khó khăn đan xen. Diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19 tiếp tục ảnh hưởng khá nặng nề đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội. Nhất là đợt bùng phát dịch vào cuối tháng 4 đến nay, do biến chủng mới lây lan nhanh khiến cho số trường hợp nhiễm mới gia tăng nhanh chóng, đã tác động tiêu cực đến các ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng, có đóng góp lớn đối với phát triển kinh tế.

IIP giảm mạnh do ảnh hưởng của dịch Covid-19
Dịch Covid-19 ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động sản xuất công nghiệp trên cả nước

Sự bùng phát mạnh của dịch Covid-19 cùng với việc áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội nhằm kiểm soát tốc độ lây lan của dịch bệnh tại nhiều tỉnh, thành phố như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và 16 tỉnh, thành phía Nam đã ảnh hưởng tới lưu thông hàng hóa, kéo theo sự gián đoạn của các chuỗi cung ứng và tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Hoạt động sản xuất công nghiệp tiếp tục gặp nhiều khó khăn. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 7/2021 chỉ tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất trong 7 tháng qua (trừ tháng 02 có số ngày làm việc ít nhất). Trong đó ngành khai khoáng tháng 7 giảm 8%; ngành chế biến, chế tạo tăng 2,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 6,7%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,4% so với cùng kỳ.

Tính chung 7 tháng năm 2021, IIP ước tính tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với mức tăng 2,6% của cùng kỳ năm 2020 và thấp hơn mức tăng 9,4% của cùng kỳ năm 2019. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,9% (cùng kỳ năm 2020 tăng 4,2%), đóng góp 8,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,2%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,6%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 6,3%, làm giảm 1 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

Chỉ số sản xuất 7 tháng năm 2021 của một số ngành trọng điểm thuộc ngành công nghiệp cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất kim loại tăng 34,7%; sản xuất xe có động cơ tăng 30,6%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 14,2%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 13%.

Ở chiều ngược lại, một số ngành có chỉ số sản xuất giảm: Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 10,4%; khai thác than cứng và than non giảm 2,9%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 1,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 15,8%.

IIP giảm mạnh do ảnh hưởng của dịch Covid-19
TP Hồ Chí Minh có mức giảm IPP sâu nhất lên tới 19,4%.

Chỉ số sản xuất tháng 7/2021 so với cùng kỳ năm trước của 19 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở phía Nam thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg để phòng chống dịch Covid-19 như sau: 7 địa phương có chỉ số IIP tháng 7 giảm và 12 địa phương tăng. Cụ thể, TP Hồ Chí Minh giảm 19,4%; Long An giảm 14,6%; Cà Mau giảm 13,7%; Đồng Tháp giảm 5,7%; Trà Vinh giảm 5,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 1,9%; Bến Tre giảm 0,2%.

Tuy nhiên, một số địa phương có chỉ số IIP tăng do một số khu công nghiệp quyết tâm không để đứt gãy chuỗi cung ứng, đảm bảo yêu cầu phòng chống dịch bệnh với phương án 3 tại chỗ nên được phép hoạt động để tiếp tục thực hiện các đơn hàng sản xuất đã ký kết hợp đồng trước đó gồm: Bạc Liêu tăng 13,7% do sản xuất điện tăng 137,6% (bổ sung Nhà máy điện gió Đông Hải 1 hòa lưới điện tháng 2/2021, Nhà máy điện gió Công Lý, Nhà máy điện gió Hòa Bình hòa lưới điện tháng 3/2021); Bình Phước tăng 12,2% do sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 29,5%; Hậu Giang tăng 10,1% do sản xuất chế biến thực phẩm tăng 3,3%, sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 27,2%, sản xuất đồ uống tăng 76,4%;

IPP của Kiên Giang cũng tăng 8,8% do sản xuất khoáng phi kim loại khác tăng 6,5%, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 69,5%, sản xuất điện tăng 14%; Cần Thơ tăng 8,1% do sản xuất chế biến thực phẩm tăng 20,2%, sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 42,7%, sản xuất thuốc lá tăng 3,9%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 30,6%, sản xuất mô tô, xe máy tăng 52%; Sóc Trăng tăng 7,6% do sản xuất chế biến thực phẩm tăng 3,6%, sản xuất đồ uống tăng 67,4%; An Giang tăng 6% do ngành dệt tăng 20,2%, sản xuất trang phục tăng 0,9%, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 10,1%, sản xuất khoáng phi kim loại khác tăng 14,6%.

IIP giảm mạnh do ảnh hưởng của dịch Covid-19
Bắc Ninh kiểm soát tốt dịch bệnh và giữ vững nhịp độ sản xuất công nghiệp.

Tại miền Bắc, các tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, cơ bản đã khống chế, kiểm soát được dịch bệnh, hoạt động sản xuất trong các khu công nghiệp dần hồi phục. Tốc độ tăng chỉ số IIP các tháng 5, 6 và 7 so với cùng kỳ năm trước của 2 tỉnh lần lượt là: Bắc Giang tháng 5 giảm 26,7%, tháng 6 giảm 49,8% và tháng 7 giảm 15,3%; Bắc Ninh tăng 23,9%, giảm 8,6% và tăng 1,1%.

TP Hà Nội bắt đầu thực hiện giãn cách xã hội từ ngày 24/7/2021, chỉ số IIP tháng 7/2021 tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 7 tháng năm 2021 tăng so cao với cùng kỳ năm trước như: Thép cán tăng 55,9%; linh kiện điện thoại tăng 40%; ô tô tăng 39,6%; giày, dép da tăng 19,3%; sắt, thép thô tăng 16,2%; phân hỗn hợp NPK tăng 15,4%; điện thoại di động tăng 14,1%; vải dệt từ sợi nhân tạo và sợi tự nhiên cùng tăng 10,6%; quần áo mặc thường tăng 9,5%. Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước như: Khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 13,4%; tivi các loại giảm 10,3%; phân u rê giảm 5,2%; dầu thô giảm 5,9%; than sạch giảm 2,8%.

Có thể khẳng định rằng, với sản xuất công nghiệp thì kiểm soát chặt dịch bệnh với phương trâm 3 tại chỗ là cực kỳ cần thiết, đặc biệt là việc cung cấp đủ vắc xin phòng chống dịch cho công nhân và cán bộ tại khu công nghiệp thực hiện chiến lược miễn dịch cộng đồng càng sớm càng đạt hiệu quả cao, phục hồi sản xuất nhanh.

Thành Công

Tin tức kinh tế ngày 29/07: Hàng hóa xuất khẩu sang Mỹ không bị hạn chế thương mại Tin tức kinh tế ngày 29/07: Hàng hóa xuất khẩu sang Mỹ không bị hạn chế thương mại
Vượt qua dịch Covid-19, công nghiệp Việt Nam vẫn tăng trưởng Vượt qua dịch Covid-19, công nghiệp Việt Nam vẫn tăng trưởng
Sản xuất công nghiệp tiếp tục khởi sắc Sản xuất công nghiệp tiếp tục khởi sắc
Sản xuất công nghiệp duy trì đà hồi phục Sản xuất công nghiệp duy trì đà hồi phục

  • bidv-5-goi-dich-vu-free
  • vietinbank
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL / DOJI HN lẻ 56,500 57,500
AVPL / DOJI HN buôn 56,500 57,500
AVPL / DOJI HCM lẻ 56,400 57,600
AVPL / DOJI HCM buôn 56,400 57,600
AVPL / DOJI ĐN lẻ 56,400 ▲50K 57,600 ▼100K
AVPL / DOJI ĐN buôn 56,400 ▲50K 57,600 ▼100K
Nguyên liêu 9999 - HN 49,350 51,800
Nguyên liêu 999 - HN 49,300 51,750
AVPL / DOJI CT lẻ 56,600 57,800
AVPL / DOJI CT buôn 56,600 57,800
Cập nhật: 20/09/2021 14:46
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - Bóng đổi 9999 0 0
TPHCM - PNJ 50.100 ▼200K 52.100 ▼100K
TPHCM - SJC 56.300 ▲100K 57.200
Hà Nội - PNJ 50.100 ▼200K 52.100 ▼100K
Hà Nội - SJC 56.300 ▲50K 57.400 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 50.100 ▼200K 52.100 ▼100K
Đà Nẵng - SJC 56.300 ▲100K 57.200
Cần Thơ - PNJ 50.100 ▼200K 52.100 ▼100K
Cần Thơ - SJC 56.300 ▲100K 57.200
Giá vàng nữ trang - Nhẫn PNJ (24K) 50.000 ▼200K 52.000 ▼50K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 50.000 ▼200K 50.800 ▼200K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 36.850 ▼150K 38.250 ▼150K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 28.470 ▼120K 29.870 ▼120K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 19.880 ▼90K 21.280 ▼90K
Cập nhật: 20/09/2021 14:46
AJC Mua vào Bán ra
Vàng trang sức 9999 5,085 5,205
Vàng trang sức 999 5,075 5,195
Vàng NT, TT Hà Nội, 3A 5,140 5,210
Vàng NL 9999 5,130 5,200
Vàng miếng SJC Thái Bình 5,690 5,760
Vàng miếng SJC Nghệ An 5,700 5,750
Vàng miếng SJC Hà Nội 5,685 5,755
Vàng NT, TT Thái Bình 5,140 5,240
Vàng NT, TT Nghệ An 5,150 5,270
Cập nhật: 20/09/2021 14:46
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 56,150 ▲150K 56,800 ▲150K
SJC 5c 56,150 ▲150K 56,820 ▲150K
SJC 2c, 1C, 5 phân 56,150 ▲150K 56,830 ▲150K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 50,200 51,100
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 50,200 51,200
Nữ Trang 99.99% 49,800 50,800
Nữ Trang 99% 48,997 50,297
Nữ Trang 68% 32,697 34,697
Nữ Trang 41.7% 19,336 21,336
Cập nhật: 20/09/2021 14:46
BTMC Mua vào Bán ra
VÀNG MIẾNG VRTL 5,151 5,221
NHẪN TRÒN TRƠN 5,151 5,221
VÀNG TRANG SỨC; BẢN VỊ; THỎI; NÉN 5,085 5,195
QUÀ MỪNG BẢN VỊ VÀNG 5,151 5,221
VÀNG TRANG SỨC 5,075 5,185
VÀNG HTBT 5,075
VÀNG MIẾNG SJC 5,690 5,752
VÀNG NGUYÊN LIỆU 5,025
Cập nhật: 20/09/2021 14:46

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,050.09 16,212.21 16,720.66
CAD 17,357.95 17,533.28 18,083.16
CHF 23,809.01 24,049.51 24,803.75
CNY 3,451.27 3,486.13 3,596.01
DKK - 3,522.87 3,655.23
EUR 25,997.59 26,260.19 27,350.60
GBP 30,426.35 30,733.68 31,697.56
HKD 2,851.38 2,880.18 2,970.51
INR - 308.31 320.42
JPY 202.06 204.10 213.76
KRW 16.53 18.37 20.13
KWD - 75,505.35 78,469.26
MYR - 5,381.95 5,495.50
NOK - 2,554.67 2,661.28
RUB - 312.18 347.87
SAR - 6,058.39 6,296.21
SEK - 2,566.75 2,673.86
SGD 16,429.36 16,595.32 17,115.78
THB 602.76 669.74 694.90
USD 22,645.00 22,675.00 22,875.00
Cập nhật: 20/09/2021 14:46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 16,224 16,324 16,874
CAD 17,530 17,630 18,180
CHF 24,125 24,230 24,730
CNY - 3,482 3,592
DKK - 3,538 3,668
EUR #26,256 26,281 27,301
GBP 30,786 30,836 31,796
HKD 2,849 2,864 2,999
JPY 202.96 203.46 211.96
KRW 17.38 18.18 20.98
LAK - 2.17 2.62
NOK - 2,563 2,643
NZD 15,771 15,854 16,141
SEK - 2,589 2,639
SGD 16,394 16,494 17,094
THB 629.69 674.03 697.69
USD #22,655 22,675 22,875
Cập nhật: 20/09/2021 14:46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
USD, (1,2) 22,438
USD, (5,10,20) 22,438
USD,50-100 22,663 22,683 22,873
JPY 203.94 203.91 212.93
AUD 15,999 16,218 16,818
CAD 17,329 17,526 18,127
GBP 30,550 30,794 31,699
CHF 23,935 24,179 24,782
SGD 16,507 16,595 17,196
EUR 26,174 26,380 27,382
CNY - 3,462 3,593
HKD - 2,795 2,995
THB 656 662 713
MYR - 5,362 5,518
KRW - 22.00
Cập nhật: 20/09/2021 14:46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 22,680 22,680 22,880
USD(1-2-5) 22,467 - -
USD(10-20) 22,635 - -
GBP 30,545 30,729 31,782
HKD 2,869 2,889 2,962
CHF 23,905 24,050 24,799
JPY 203.37 204.6 212.7
THB 646.78 653.32 710.73
AUD 16,133 16,230 16,715
CAD 17,393 17,498 18,058
SGD 16,502 16,602 17,089
SEK - 2,577 2,653
LAK - 1.99 2.47
DKK - 3,537 3,641
NOK - 2,567 2,643
CNY - 3,472 3,575
RUB - 282 360
NZD 15,725 15,820 16,145
KRW 17.2 - 20.94
EUR 26,245 26,316 27,330
TWD 740.66 - 838.37
MYR 5,093.59 - 5,572.73
Cập nhật: 20/09/2021 14:46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 22,670.00 22,690.00 22,870.00
EUR 26,322.00 26,388.00 27,021.00
GBP 30,780.00 30,966.00 31,555.00
HKD 2,870.00 2,882.00 2,967.00
CHF 24,018.00 24,115.00 24,731.00
JPY 203.69 204.91 209.37
AUD 16,178.00 16,243.00 16,791.00
SGD 16,603.00 16,670.00 17,033.00
THB 657.00 660.00 703.00
CAD 17,555.00 17,626.00 18,020.00
NZD 0.00 15,767.00 16,242.00
KRW 0.00 18.39 20.17
Cập nhật: 20/09/2021 14:46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 22.674 22.680 22.920
AUD 16.275 16.375 16.883
CAD 17.582 17.682 18.092
CHF 24.225 24.325 24.741
EUR 26.477 26.577 27.042
GBP 31.012 31.112 31.521
JPY 204,82 206,32 222,5
SGD 16.647 16.747 17.057
Cập nhật: 20/09/2021 14:46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
GOLD 5,636,000 5,636,000 5,694,000
USD(50,100) 22,673 22,693 23,148
USD(5, 10, 20) 22,653 22,693 23,148
USD(1,2) 22,653 22,693 23,148
EUR 26,381 26,481 26,991
GBP 30,820 30,920 31,629
JPY 204.18 205.18 210.24
CAD 17,404 17,454 18,209
AUD 16,185 16,285 16,791
SGD 16,553 16,653 17,161
CNY
THB
CHF
KRW
Cập nhật: 20/09/2021 14:46
  • pvgas