Đầu tư công trước bài toán tăng trưởng 11,9%: Dòng vốn lớn sẽ chảy về đâu?
Theo số liệu vừa được công bố, GDP quý II/2026 tăng 8,39%, đưa tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm lên 8,18%, cao hơn đáng kể so với mức 7,63% của cùng kỳ năm trước. Đây là kết quả tích cực trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn chịu nhiều biến động, phản ánh sức chống chịu ngày càng cải thiện của nền kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên, nếu đặt trong mục tiêu tăng trưởng cả năm trên 10%, con số này vẫn chưa đủ. Kịch bản tăng trưởng mới theo Nghị quyết 168/NQ-CP yêu cầu GDP 6 tháng cuối năm phải tăng khoảng 11,9% - một nhiệm vụ được đánh giá là đầy thách thức nhưng cũng mở ra dư địa lớn cho các chính sách kích thích tăng trưởng.
![]() |
Gần 65% kế hoạch vốn vẫn đang chờ được đưa vào nền kinh tế
Tính đến ngày 02/07/2026, vốn đầu tư công giải ngân đạt 360.949 tỷ đồng, tương đương hơn 35% kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao. Điều đó đồng nghĩa gần 65% khối lượng vốn vẫn đang chờ được đưa vào nền kinh tế trong nửa cuối năm. Khác với những giai đoạn trước, quy mô giải ngân lần này không chỉ nhằm hoàn thành kế hoạch vốn mà còn mang theo kỳ vọng tạo hiệu ứng lan tỏa tới tăng trưởng GDP, kích thích đầu tư tư nhân, tạo việc làm và thúc đẩy nhiều ngành kinh tế cùng phát triển. Đó cũng là lý do thị trường đang hướng sự quan tâm tới những doanh nghiệp nằm trong chuỗi giá trị đầu tư công.
Đầu tư công không còn là câu chuyện mua cả ngành
Điểm khác biệt của chu kỳ đầu tư công năm 2026 nằm ở chỗ quy mô vốn lớn hơn, tiến độ được thúc đẩy mạnh hơn và yêu cầu về chất lượng thực hiện cũng cao hơn. Điều đó đồng nghĩa cơ hội sẽ không còn phân bổ đồng đều như trước. Những doanh nghiệp sở hữu năng lực thi công, nền tảng tài chính vững hay nắm giữ lợi thế về khả năng cung ứng sẽ là nhóm có khả năng chuyển hóa dòng vốn đầu tư công thành kết quả kinh doanh rõ nét hơn phần còn lại của thị trường. Như vậy, yếu tố quyết định không còn đơn thuần chỉ là lựa chọn đúng nhóm ngành mà còn là lựa chọn đúng doanh nghiệp để tối ưu hiệu quả đầu tư.
Dòng vốn lớn sẽ chảy về đâu?
Nhóm vật liệu xây dựng thường là nơi phản ứng sớm nhất khi các dự án bước vào giai đoạn thi công. Nhu cầu thép, đá xây dựng, xi măng và vật liệu san lấp được kỳ vọng tăng lên cùng tiến độ của sân bay, cao tốc và đường sắt. Trong nhóm thép, Hòa Phát (HPG) tiếp tục được đánh giá cao nhờ quy mô sản xuất lớn, chuỗi cung ứng tương đối khép kín và khả năng đáp ứng các đơn hàng hạ tầng có khối lượng lớn. Đối với nhóm vật liệu cát, đá xây dựng…, các doanh nghiệp sở hữu mỏ khai thác gần khu vực triển khai dự án cũng sẽ có lợi thế đáng kể khi nguồn cung vật liệu san lấp vẫn còn hạn chế.
Trong nhóm nhà thầu, Công ty Cổ phần FECON (HSX: FCN) là một trường hợp đáng chú ý nhờ thế mạnh trong xử lý nền móng, công trình ngầm và hạ tầng giao thông - những lĩnh vực có yêu cầu cao về công nghệ, thiết bị và kinh nghiệm triển khai.
Đường sắt đô thị (metro) đang là một trong những mảng thể hiện rõ nhất lợi thế kỹ thuật của FECON. Tại Hà Nội, doanh nghiệp đang thực hiện gói xử lý nền Depot Xuân Đỉnh thuộc tuyến Metro số 2 Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo. Tháng 5/2026, FECON tiếp tục ký hợp đồng trị giá khoảng 3.000 tỷ đồng thuộc dự án thành phần 2 tuyến Metro số 5 Văn Cao - Hòa Lạc, với phạm vi công việc bao gồm các hạng mục đào hầm bằng TBM. Trước đó, đến tháng 4/2026, doanh nghiệp đã hoàn thành toàn bộ công tác khoan hầm bằng hai TBM tại đoạn ngầm tuyến Metro Nhổn - Ga Hà Nội. Việc liên tục tham gia các tuyến metro giúp FECON tích lũy kinh nghiệm trong một phân khúc có yêu cầu kỹ thuật cao, trong bối cảnh đầu tư cho đường sắt đô thị được kỳ vọng tăng mạnh trong những năm tới.
Bên cạnh metro, FECON tiếp tục bổ sung nguồn việc tại các dự án hạ tầng giao thông lớn. Đáng chú ý, trong quý II/2026, doanh nghiệp ghi nhận các gói thầu tại dự án Sân bay Gia Bình (Bắc Ninh) với tổng giá trị khoảng 1.600 tỷ đồng. Việc liên tiếp có thêm các hợp đồng quy mô lớn cho thấy khả năng chuyển hóa chu kỳ đầu tư hạ tầng thành nguồn việc thực tế của doanh nghiệp đang trở nên rõ nét hơn. Sự hiện diện tại cả metro, sân bay, cảng biển và các công trình hạ tầng khác góp phần mở rộng danh mục dự án, đồng thời giảm mức độ phụ thuộc vào một nhóm công việc riêng lẻ.
Cùng với các hợp đồng đang triển khai và nguồn việc mới được bổ sung, quy mô backlog của FECON hiện tiến sát mốc 10.000 tỷ đồng, tạo nền tảng cho hoạt động thi công và ghi nhận doanh thu trong các kỳ tới. Riêng trong quý II/2026, FECON và các đơn vị thành viên ghi nhận thêm hơn 3.600 tỷ đồng giá trị hợp đồng và đầu việc mới.
Nguồn việc gia tăng đã bắt đầu phản ánh rõ hơn vào kết quả kinh doanh của FECON trong nửa đầu năm 2026. Lũy kế 6 tháng, doanh thu thuần của doanh nghiệp đạt khoảng 3.213 tỷ đồng, tăng gần 50% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng quý II, doanh thu đạt khoảng 1.911 tỷ đồng, tăng 46,7% so với cùng kỳ và cao hơn đáng kể mức ghi nhận trong quý I.
Cùng với tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận sau thuế 6 tháng cũng cải thiện tích cực so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý hơn, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh đạt dương 172 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm 2025 âm 356 tỷ đồng. Sự đảo chiều của dòng tiền kinh doanh là tín hiệu đáng lưu ý đối với một doanh nghiệp xây dựng.
Dù vậy, với đặc thù ngành xây dựng, backlog lớn và vị thế tại các dự án trọng điểm mới chỉ là nền tảng ban đầu. Khả năng chuyển hóa nguồn việc thành lợi nhuận còn phụ thuộc vào tiến độ thi công, biên lợi nhuận của từng gói thầu, khả năng kiểm soát vốn lưu động cũng như tốc độ thu hồi công nợ. Đây sẽ là những chỉ tiêu cần tiếp tục theo dõi để đánh giá mức độ hưởng lợi thực tế của FCN trong chu kỳ đầu tư hạ tầng hiện nay.
P.V
-
Đầu tư công trước bài toán tăng trưởng 11,9%: Dòng vốn lớn sẽ chảy về đâu?
-
Những ngành, nghề nào được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp?
-
PMI tháng 7 đạt 52,9 điểm, ngành sản xuất Việt Nam khởi sắc
-
Cắt giảm điều kiện kinh doanh phải thực chất, không để phát sinh “giấy phép con”
-
Mỗi tháng có 26.700 doanh nghiệp gia nhập và quay lại thị trường

