“Xu hướng chuyển dịch năng lượng và hàm ý chính sách đối với ngành dầu khí Việt Nam”

07:00 | 23/10/2022

11,688 lượt xem
Theo dõi PetroTimes trên
|
Ngành dầu khí Việt Nam hiện đang đối mặt với những rủi ro trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng đòi hỏi những chính sách và chiến lược có tầm nhìn lâu dài của Chính phủ. Công tác kêu gọi, thu hút đầu tư vào lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò gặp nhiều khó khăn.
“Xu hướng chuyển dịch năng lượng và hàm ý chính sách đối với ngành dầu khí Việt Nam”
Năng lượng tái tạo là xu hướng năng lượng mới (Ảnh tư liệu)

Biến đổi khí hậu và thực trạng sử dụng năng lượng trên thế giới đã tạo ra sự dịch chuyển trên toàn cầu về triết lý phát triển, môi trường thể chế, quan điểm chính sách… dẫn tới những thay đổi đáng kể trong mọi lĩnh vực của đời sống và quy trình sản xuất của các nước, các lĩnh vực. Cụ thể đó là quá trình “chuyển dịch năng lượng” đang diễn ra.

Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) được đưa ra lấy ý kiến chưa đề cập đến bối cảnh của việc chuyển dịch năng lượng, trong khi ngành dầu khí lại là ngành chịu tác động trực tiếp.

Ngày 19/10 vừa qua, tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược Việt Nam (VESS), cơ quan điều phối Liên minh Công bằng thuế Việt Nam (VATJ) đã tổ chức công bố kết quả nghiên cứu “Xu hướng chuyển dịch năng lượng và hàm ý chính sách đối với ngành dầu khí Việt Nam”.

Nghiên cứu này nhằm làm rõ các xu hướng chuyển dịch năng lượng trên thế giới và tìm hiểu các tác động tiềm tàng của nó tới nền kinh tế Việt Nam nói chung và với ngành dầu khí tại Việt Nam nói riêng.

Nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị với những phân tích chuyên sâu về ngành dầu khí, cung cấp đầu vào cho các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam trong quá trình tiếp thu ý kiến, thảo luận và đưa ra các kiến nghị về việc sửa đổi một số nội dung của Luật Dầu khí cũng như ban hành các chiến lược phát triển đối với ngành dầu khí.

Chuyển dịch năng lượng là tất yếu

Sự chuyển dịch này được lý giải, do hiện tượng nóng lên toàn cầu là do ảnh hưởng của khí nhà kính với thành phần chủ yếu là CO2 (65%); 74,1% CO2 phát thải từ ngành năng lượng, trong đó bao gồm ngành điện, vận tải, sản xuất & xây dựng...

Thêm nữa, nguồn nhiên liệu hoá thạch không được phân bố đồng đều trên Trái đất từ đó dẫn tới sự bất bình đẳng đối với các quốc gia nghèo tài nguyên trong việc tiếp cận tới nguồn nhiên liệu phục vụ cho phát triển. Phụ thuộc vào nguồn cung từ nước ngoài sẽ gây ảnh hưởng tới các vấn đề về kinh tế - xã hội ở trong nước.

Đáng chú ý, Trung Quốc giảm điện than và nhiên liệu hoá thạch với cam kết giảm CO2/đơn vị GDP hơn 65% so với mức 2005, nâng sản lượng điện sạch, tỷ trọng nhiên liệu phi hoá thạch lên 25% vào năm 2030.

Song song, Hoa Kỳ cũng giảm phát thải CO2 nhờ giảm điện than và tăng điện khí, trong đó, cam kết giảm CO2/đơn vị GDP ít nhất 50% so với mức 2005, thay thế các nguồn nhiên liệu hoá thạch và điện khí hoá các ngành công nghiệp và giao thông vận tải vào năm 2030.

Với Nhật Bản, ngành công nghiệp của nước này phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nhiên liệu hoá thạch nhập khẩu (than, dầu và khí). Năm 1973, do ảnh hưởng từ sự thay đổi chính sách của OPEC, Nhật Bản đã bắt đầu đầu tư vào năng lượng hạt nhân và năng lượng tái tạo. Năm 1990, Nhật Bản dẫn đầu về pin quang điện (PV) được lắp đặt. Năng lượng từ dầu mỏ giảm từ 77% (1973) xuống 37% (2021), nhu cầu có xu hướng giảm 1,5%/năm tới 2050. Quốc gia này cũng giảm tỷ trọng phụ thuộc vào nhiên liệu hoá thạch, sau sự cố 2011, Nhật Bản cắt giảm năng lượng hạt nhân cho sản xuất điện và tăng tỷ trọng của điện hoá thạch; điện khí tăng nhanh nhất (28% năm 2010 lên 42% năm 2014). Theo kế hoạch Năng lượng Chiến lược cơ bản lần 6: Vào năm 2030, năng lượng tái tạo (NLTT) tăng từ 20% lên 36-38%, năng lượng hạt nhân (NLHN) từ 7% lên 20-22%, Điện khí 20%.

Phân tích với khu vực Liên minh châu Âu (EU) thấy rằng, năm 2020, EU nhập khẩu 58% năng lượng từ các quốc gia bên ngoài. Cùng năm, EU nhập 24% năng lượng từ Nga, trong đó đáp ứng 37% nhu cầu dầu, 41% nhu cầu khí tự nhiên và 19% nhu cầu than của khu vực. Trong bối cảnh xung đột tại Ucraina, các quốc gia EU đang tìm giải pháp để tránh sự ảnh hưởng của địa chính trị đối với năng lượng. Được biết, cơ cấu năng lượng của EU năm 2021: Dầu và các sản phẩm từ dầu chiếm 35%; Than chiếm 11%; Khí tự nhiên chiếm 24%; 70% tổng năng lượng của EU là năng lượng hoá thạch, nên đây là động lực để thay đổi cơ cấu năng lượng, tránh phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng. Vì lẽ đó, EU đang tìm cách tăng sản xuất điện tái tạo để giảm tiêu thụ than (điện than). Trong đó, triển khai sản xuất xe điện để hạn chế phương tiện chạy bằng xăng dầu. Dự báo tăng trưởng xe điện vào năm 2030 là 6,7 triệu đơn vị/năm. EU cần 113 TWh điện (5% tổng nhu cầu điện) cho các trạm sạc và 6,8 triệu trạm sạc vào năm 2030 (ACEA, 2022). EU cũng tìm cách đa dạng hoá nguồn cung cho nguồn khí đốt. Năm 2021, EU chỉ sản xuất được 12% trong tổng tiêu dùng, 38% đến từ Nga. Giải pháp là thay thế khí đốt từ Nga bằng khí tự nhiên hoá lỏng LNG từ Mỹ, tăng sản xuất tại Hà Lan và nhập khẩu từ Na Uy, Bắc Phi.

Cũng theo kết quả nghiên cứu, năng lượng tái tạo biến đổi (VRE) có xu hướng chiếm tỷ trọng lớn. Năm 2015, chỉ có hơn 30 quốc gia có tỷ trọng phát điện VRE lớn hơn 5%. Năm 2024, có khoảng 80 quốc gia có tỷ trọng trên 5%. Trung Quốc, Ấn Độ, châu Âu và Hoa Kỳ được dự báo sẽ có tỷ trọng trên 30%. Xe điện sẽ thay thế các loại phương tiện chạy bằng nhiên liệu hoá thạch. Năm 2012, chỉ có 130.000 xe điện được bán trên toàn cầu. Năm 2019, có 2,2 triệu xe, chiếm 2,5% tổng doanh số ô tô toàn cầu. Năm 2021, có 6,6 triệu xe, chiếm 9% mặc dù thị trường bị thu hẹp do ảnh hưởng kinh tế. Các công ty đã đầu tư, thử nghiệm vào hệ thống sạc điện tích hợp vào chuỗi giá trị của hệ thống xăng dầu sẵn có, cũng như kết hợp tổng thể trong chuỗi giá trị thượng nguồn (khai thác khí) và hạ nguồn (nhà máy điện). Tới năm 2030, NLTT có thể tạo ra 10,3 triệu việc làm và còn có thể tăng lên 22,7 triệu công việc nếu các quốc gia được đặt trong bối cảnh hướng tới mục tiêu đưa phát thải về 0.

Chuyển dịch năng lượng ở Việt Nam

“Xu hướng chuyển dịch năng lượng và hàm ý chính sách đối với ngành dầu khí Việt Nam”
Ngành dầu khí cần chủ động trong chuyển dịch năng lượng (Ảnh: PV)

Với Việt Nam, phát triển kinh tế và phát thải CO2 của các loại nhiên liệu tại Việt Nam có thay đổi rõ rệt theo từng giai đoạn. Cụ thể, trong giai đoạn 1990-2020, năng lượng hoá thạch đóng vai trò đảm bảo an ninh năng lượng cho phát triển kinh tế. Đặc biệt, năm 1990, than và dầu chiếm 95% (20 triệu tấn CO2tđ) tổng lượng phát thải của các loại nhiên liệu. Năm 2020, than và dầu chỉ còn chiếm 73% nhưng đã tăng gấp hơn 9 lần (185 triệu tấn CO2tđ).

Khảo sát của WB cho thấy, Việt Nam đã mất 10 tỷ USD, 3,2% GDP vào năm 2020 bởi BĐKK.

Liên quan tới an ninh năng lượng tại Việt Nam. Năm 2019, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 22 thế giới và thứ 2 ở khu vực ASEAN chỉ sau Indonesia về lượng điện tiêu thụ. Sản lượng điện đã tăng gần 50 lần từ 5,1 TWh (1985) lên 244,7 TWh (2021). Tỷ lệ tăng trung bình 10%/năm đòi hỏi công suất phát điện phải tăng hơn gấp đôi trong thập ký tới. Thuỷ điện đã đạt tới giới hạn phát triển. Điện than hiện chiếm tỷ trọng lớn nhưng gây ra nhiều tác động tiêu cực, là một trong những nguyên nhân tạo ra ô nhiễm không khí và gây ra hơn 60.000 ca tử vong vào năm 2016. Do đó, Nghiên cứu khuyến cáo, Việt Nam cần chuyển dịch dần sang năng lượng tái tạo nhằm đảm bảo an ninh năng lượng và lựa chọn một giải pháp xanh hơn cho ngành năng lượng.

Năm 2021, Việt Nam xếp thứ 61/115 quốc gia về mức độ sẵn sàng chuyển dịch. Được đánh giá cao bởi hạ tầng và môi trường kinh doanh; Quy định và cam kết chính sách; Vốn và đầu tư nhưng cũng hạn chế bởi cơ cấu hệ thống năng lượng; thể chế và quản trị; vốn nhân lực và sự tham gia của khách hàng

Mặc dầu vậy, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia đầu tiên trình bản cập nhật của Đóng góp quốc gia tự quyết định (NDC) lên UNFCCC vào năm 2020. Tổng lượng phát thải theo các kịch bản vào năm 2030: Theo Kịch bản Phát triển thông thường (BAU): 928 triệu tấn CO2tđ (Năng lượng chiếm 678). Theo Kich bản nguồn lực trong nước (9%): 844,1 triệu tấn CO2tđ (NL chiếm 627). Theo Kịch bản có hỗ trợ quốc tế (27%): 677,2 triệu tấn CO2tđ (NL chiếm 523).

Sản xuất điện của Việt Nam phụ thuộc vào ba nguồn chính là thuỷ điện, khí tự nhiên và than. Tuy nhiên dư địa để phát triển thuỷ điện không còn lớn. Điện khí và điện than được tập trung phát triển. Điện khí phát triển mạnh từ năm 1999-2014, với đỉnh điểm gấp 3 lần điện than vào năm 2010. Tuy nhiên từ các bản QHĐ VI (2007), QHĐ VII (2011) và QHĐ VII hiệu chỉnh (2016) đã lựa chọn điện than làm trụ cột. Từ năm 2015 sản lượng than đã vượt qua sản lượng khí, và tăng trung bình 13%/năm.

Theo quy hoạch điện VIII (T7/2023), NLTT và điện khí sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất, thay thế các loại NLHT khác. Tỷ trọng than sẽ giảm còn 26% (2030), 10% (2045). Tỷ trọng NLTT tăng từ 5% lên 22% (2030), 52% (2045). Tỷ trọng điện khí tăng lên 22% (2030) và giảm xuống 19% (2045). Điện khí sẽ tăng xấp xỉ 7 lần từ 10.000MW (2020) tới 73.630 MW (2045).

Cũng theo quy hoạch điện VIII, tới năm 2030 Việt Nam đặt mục tiêu công suất LNG đạt 23.900 MW, nhu cầu nhập khẩu 14-18 tỷ m3/năm. Tới năm 2022, Việt Nam có khoảng 20 dự án nhà máy nhiệt điện LNG đang được triển khai trên toàn quốc. Tuy nhiên một số các dự án này vẫn chưa xác định được nguồn nhiên liệu. Vì lẽ đó, Việt Nam có thể cân nhắc nhập khẩu từ một số nguồn: Nếu xét về lợi thế giá: Hoa Kỳ với thị trường khí truyền thống như khí đá phiến. Nếu xét về yếu tố địa lý: Australia và Qatar với sự thuận lợi đối với vận chuyển tới Việt Nam.

Chuyển dịch năng lượng với dầu khí Việt Nam

Luật Dầu khí 1993 được ban hành lần đầu tiên. Theo đó, Chính phủ sẽ có thẩm quyền toàn bộ với công tác quản lý NN về hoạt động dầu khí. Luật được sửa đổi và bổ sung 2000 và 2008 n Các quy định chỉ hạn chế ở các hoạt động thượng nguồn. Vẫn chỉ giới hạn ở các hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ, khai thác. Các khâu trung nguồn (vận chuyển, lưu trữ, phân phối dầu khí) và hạ nguồn (chế biến, lọc, hoá dầu) do các luật khác điều chỉnh.

Thu hút đầu tư vào chuỗi giá trị từ thượng nguồn tới hạ nguồn gặp khó khăn trong áp dụng. Chưa quy định rõ ràng về các loại dầu khí phi truyền thống. Điều 3, Dự thảo Luật DK sửa đổi (7/2022) đã đề cập về khái niệm “dầu khí”, trong đó bao gồm các loại dầu khí phi truyền thống. Tuy nhiên, chưa có quy định cụ thể về các hoạt động điều tra thăm dò, khai thác các loại tài nguyên này.

Vì có tính chất, đặc điểm về phân bố khác biệt so với dầu khí truyền thống, cần phải có quy định, hướng dẫn cụ thể.

Bộ Công Thương đề nghị xây dựng Luật Dầu khí nhằm điều chỉnh sắc thuế và tỷ lệ thu hồi chi phí để thu hút đầu tư nước ngoài vì số lượng hợp đồng dầu khí được ký kết gần đây giảm. Mức thu hồi chi phí tối đa được đề xuất lên tới 80% áp dụng đối với lô dầu khí được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt. Đối với các dự án đặc biệt ưu đãi, nhà đầu tư có thể được áp dụng mức giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 25% đến tối đa 50%. Ưu đãi thuế chưa phải là yếu tố giúp thu hút đầu tư. Ngoài ra, các quy định của Luật Dầu khí hiện hành chỉ đề cập đến việc giải quyết tranh chấp giữa PVN và nhà thầu đối tác, mà chưa đề cập tới cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà nước Việt Nam và nhà đầu tư quốc tế.

Hiện nay, năng lượng tái tạo biến đổi (VRE) như năng lượng mặt trời và năng lượng gió đang đinh thúc đẩy quá trình giảm phát thải carbon và định hình lại ngành điện. Điện khí đóng vai trò là nguồn năng lượng trung gian, hỗ trợ chuyển đổi sang năng lượng sạch và có xu hướng tăng trưởng trong tương lai.

Thiết nghĩ, xu hướng chuyển dịch năng lượng trên thế giới sẽ gắn với sự chuyển dịch của lao động, theo hướng tới năm 2030, sẽ có 10,3 triệu số việc làm ròng được tạo ra trong ngành năng lượng tái tạo và các ngành liên quan; thậm chí có thể lên tới 22,7 triệu việc làm ròng nếu tuân thủ mục tiêu đưa phát thải về “0”. Lao động trong ngành năng lượng hoá thạch chịu ảnh hưởng nhiều nhất khi mất 9,5 triệu việc làm. Một bộ phận người lao động trong ngành năng lượng hoá thạch có thể không đáp ứng được các yêu cầu về tuổi tác hay kỹ năng trong quá trình chuyển dịch.

Còn tại Việt Nam, xu hướng chuyển dịch năng lượng gắn với tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, tiến trình đô thị hoá và công nghiệp hoá trong vòng 30 năm qua tại Việt Nam dựa nhiều vào nguồn năng lượng than và dầu đã tạo ra một lượng lớn khí thải nhà kính, một trong các tác nhân chủ yếu gây ra biến đổi khí hậu. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đã mất 10 tỷ USD vào năm 2020, tương đương 3,2% GDP bởi các ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu.

Năm 2021, Việt Nam được xếp hạng 61 trên tổng số 115 quốc gia về mức độ sẵn sàng chuyển dịch năng lượng trong chỉ số Chuyển dịch năng lượng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới với số điểm là 54/100, tăng 8 bậc và 3 điểm so với bảng xếp hạng năm 2020. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trình bản cập nhật của Đóng góp quốc gia tự quyết định (NDC) lên UNFCCC vào năm 2020, cam kết giảm phát thải khí nhà kính. Các ngành năng lượng như ngành điện và ngành giao thông vận tải có xu hướng thay đổi nhiều nhất để đáp ứng cam kết của Việt Nam trong việc giảm thải khí nhà kính. Ngành dầu khí, với chức năng cung cấp nhiên liệu đầu vào cho các ngành trên cũng đang đối mặt với các cơ hội và thách thức trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng trên toàn cầu.

Với ngành dầu khí, Luật Dầu khí mới chỉ quy định các hoạt động ở khâu thượng nguồn, mà không quy định các hoạt động trung và hạ nguồn. Việc này sẽ gây ra hiện tượng xung đột, chồng chéo trong quá trình quản lý chuỗi giá trị dầu khí. Do đó cần đưa vào Dự thảo các quy định liên quan đến hoạt động dầu khí ở khâu trung và hạ nguồn. Các ưu đãi thuế không phải là vấn đề then chốt trong việc đẩy manh thu hút đầu tư. Cải thiện môi trường kinh doanh là nhân tố quyết định trong việc lựa chọn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài. Cần bổ sung và luật hoá các cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà nước Việt Nam với các nhà đầu tư quốc tế nhằm làm cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng, tránh tình trạng tranh chấp kéo dài, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước. Cần nghiên cứu và bổ sung các quy định về điều tra, thăm dò và khai thác các loại dầu khí phi truyền thống. Các loại dầu khí phi truyền thống có đặc điểm về việc phân bố, đặc tính hóa học tương đối khác biệt so với dầu khí truyền thống nên các phương pháp để điều tra, thăm dò và khai thác cũng khác biệt, đòi hỏi cần có quy định và hướng dẫn cụ thể. Ngoài ra, Việt Nam cần phải tăng cường khai thác các mỏ khí đốt tiềm năng của mình thay vì duy trì sản lượng hiện nay như Quy hoạch Điện VIII đang đề xuất. Vì điện khí vẫn là nhân tố quan trọng giúp thay thế dần các nguồn nhiệt điện than và hỗ trợ quá trình chuyển đổi từ năng lượng hoá thạch sang năng lượng tái tạo. Ngành dầu khí chủ động, tích cực tham gia vào quá trình thiết kế toàn bộ thị trường năng lượng Việt Nam với tầm nhìn dài hạn của bối cảnh chuyển dịch năng lượng, nhằm bảo vệ lợi ích của mình trong tổng thể lợi ích chung.

Theo Báo Điện tử Đảng Cộng sản