"Vũ khí thầm lặng" của Trung Quốc trước khủng hoảng dầu mỏ toàn cầu
![]() |
| Một nhà máy lọc dầu teapot ở Trung Quốc. (Ảnh: AFP) |
Khi Mỹ và Israel tiến hành không kích Iran vào ngày 28/2, và Tehran đáp trả chỉ vài giờ sau bằng cách phong tỏa eo biển Hormuz - tuyến đường hẹp vận chuyển khoảng 1/5 lượng dầu và khí đốt toàn cầu - thị trường năng lượng rơi vào trạng thái hoảng loạn.
Giá dầu Brent đã vượt mốc 116 USD/thùng vào đầu tuần, và nhiều quốc gia trên thế giới vội vã khai thác kho dự trữ chiến lược.
Tuy nhiên, Trung Quốc dường như đã âm thầm chuẩn bị cho kịch bản này từ trước.
Trung Quốc phụ thuộc vào dầu Trung Đông đến mức nào?
Ở mức cao. Hơn một nửa lượng dầu của Trung Quốc đến từ Trung Đông, trong đó Iran chiếm tỷ trọng đáng kể. Theo dữ liệu từ công ty theo dõi vận tải Kpler, Trung Quốc đã mua hơn 80% lượng dầu Iran xuất khẩu bằng đường biển trong năm 2025, tương đương khoảng 1,4 triệu thùng/ngày, trong tổng số 10,4 triệu thùng dầu thô nhập khẩu mỗi ngày bằng đường biển.
Dù vậy, khi khủng hoảng xảy ra, Bắc Kinh không rơi vào thế bị động. Ngay từ năm 2021, Chủ tịch Tập Cận Bình đã tuyên bố rõ trong một chuyến thăm mỏ dầu trong nước rằng Trung Quốc sẽ “tự nắm quyền kiểm soát nguồn cung năng lượng của mình”.
“Nhà máy lọc dầu teapot” là gì?
Tên gọi này xuất phát từ hình dáng của chúng - nhỏ gọn, thấp, trông giống như những chiếc ấm trà. Đây là các nhà máy lọc dầu quy mô nhỏ, thuộc sở hữu tư nhân, tập trung chủ yếu tại tỉnh Sơn Đông, miền đông Trung Quốc.
Chúng bắt đầu thu hút sự chú ý toàn cầu từ tháng 7/2015, khi lượng dầu thô Trung Quốc nhập khẩu tăng mạnh, theo Viện Nghiên cứu Năng lượng Oxford.
Tổng thể, các nhà máy “ấm trà” xử lý khoảng 1/4 sản lượng lọc dầu của Trung Quốc. Lợi thế lớn nhất của họ là sẵn sàng mua dầu giá rẻ, kể cả dầu bị trừng phạt từ Iran, Nga hay Venezuela - điều mà các tập đoàn nhà nước lớn như Sinopec thường tránh để không vi phạm quy định của phương Tây.
Thanh toán cho dầu Iran được thực hiện thông qua hệ thống thanh toán liên ngân hàng xuyên biên giới của Trung Quốc (CIPS), qua đó bỏ qua hoàn toàn các mạng lưới tài chính phương Tây.
Trước khi Mỹ siết chặt kiểm soát ngành dầu mỏ Venezuela vào tháng 1, Trung Quốc cũng là khách hàng lớn nhất của dầu nước này.
Các “nhà máy teapot” có đang giúp Trung Quốc như thế nào?
Có, nhưng chỉ phần nào và mang tính tạm thời. Tuần trước, các nhà máy lọc dầu tại Sơn Đông hoạt động ở mức 54,58% công suất, tăng gần 3 điểm phần trăm so với tuần trước đó. Phần lớn lượng dầu đang được chế biến hiện nay được mua từ trước khi chiến sự bùng phát.
Tuy nhiên, “đệm an toàn” này đang dần cạn. Một báo cáo của chuyên gia Alicia Garcia-Herrero cho biết các nhà máy này “đã mất quyền tiếp cận nguồn dầu giá rẻ và đang phải đối mặt với chi phí thay thế cao trong một thị trường vốn đã căng thẳng vì yếu tố địa chính trị”.
Vấn đề mang tính cơ cấu: Các nhà máy này hoạt động với biên lợi nhuận rất thấp và cực kỳ nhạy cảm với biến động giá. Khi dầu rẻ và bị trừng phạt, họ phát triển mạnh. Nhưng khi giá tăng vọt, mô hình kinh doanh dễ bị đổ vỡ.
Một đánh giá trong ngành cho biết: “Các nhà máy lọc dầu nhà nước vẫn lo ngại về rủi ro tuân thủ và vận hành, trong khi các nhà máy “ấm trà” cũng đang hạn chế mua thêm do giá cao và biên lợi nhuận thấp”.
Ngoài ra, còn có một lượng dầu Iran đang trên biển - khoảng 165 triệu thùng ngoài khu vực Vịnh Ba Tư, tương đương khoảng 4 tháng nhập khẩu thông thường của Trung Quốc từ Iran. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo đây không phải là giải pháp lâu dài. Lượng dự trữ này “không có nghĩa Trung Quốc sẽ dựa vào dầu Iran như giải pháp chính để giải quyết tình trạng thiếu hụt nguồn cung”.
Còn dầu từ Nga thì sao?
Nga cũng là một nguồn cung dầu giá rẻ quan trọng cho Trung Quốc, được vận chuyển bằng các “đội tàu bí mật” - những tàu chở dầu cũ, không có bảo hiểm, treo cờ giả để né tránh lệnh trừng phạt. Năm ngoái, các tàu này vận chuyển khoảng 10,3 triệu thùng/ngày trên toàn cầu, trong đó khoảng 1/3 hướng tới Trung Quốc.
Tuy nhiên, nguồn cung này hiện đang có sự thay đổi. Sau khi Tổng thống Trump nới lỏng các lệnh trừng phạt đối với Nga, một số tàu chở dầu Nga vốn đang trên đường tới Trung Quốc đã đổi hướng giữa hành trình, chuyển sang Ấn Độ.
Ngoài “teapot”, Bắc Kinh còn làm gì?
Bên cạnh mạng lưới này, Trung Quốc đã tích trữ dầu ở quy mô rất lớn. Theo báo cáo ngày 31/3 của Ủy ban đặc biệt Hạ viện Mỹ, đến đầu năm 2026, Trung Quốc đã xây dựng kho dự trữ dầu chiến lược khoảng 1,2 tỷ thùng, đủ đáp ứng khoảng 109 ngày nhập khẩu bằng đường biển. Phần lớn số dầu này được mua từ nguồn bị trừng phạt với giá thấp hơn thị trường.
“Nhờ nguồn dầu bị trừng phạt, Trung Quốc đã tích lũy được một kho dự trữ chiến lược khổng lồ với chi phí thấp hơn nhiều so với giá thị trường, từ chính những thùng dầu mà các lệnh trừng phạt của phương Tây nhằm cô lập”, báo cáo nêu rõ.
Các nhà máy “teapot” đã giúp Trung Quốc có thêm thời gian. Nhưng liệu khoảng thời gian đó có đủ hay không lại là một câu hỏi hoàn toàn khác.
Nh.Thạch
AFP
-
"Vũ khí thầm lặng" của Trung Quốc trước khủng hoảng dầu mỏ toàn cầu
-
Những sự kiện nổi bật trên Thị trường Năng lượng Quốc tế tuần từ 1/6 - 6/6
-
Nền kinh tế Mỹ trước cú sốc dầu mỏ đến từ Iran
-
"Điểm nóng" Trung Đông ngày 6/6: Iran cảnh báo đóng cửa eo biển Bab el-Mandeb
-
Nga lần đầu thừa nhận sản lượng dầu đang giảm

