Khủng hoảng dầu mỏ đẩy nhanh làn sóng năng lượng tái tạo
![]() |
| Fatih Birol - Giám đốc điều hành IEA. (Ảnh: AFP) |
Hệ thống năng lượng toàn cầu đang trải qua một chuyển dịch mang tính cấu trúc rời xa nhiên liệu hóa thạch sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ gần đây liên quan đến cuộc chiến Mỹ–Israel nhằm vào Iran, người đứng đầu Cơ quan Năng lượng Quốc tế cho biết, đồng thời cảnh báo về những hệ quả lâu dài đối với thị trường năng lượng.
Fatih Birol, Giám đốc điều hành của cơ quan này, cho rằng sự gián đoạn đã làm thay đổi căn bản cách nhìn về độ tin cậy của nhiên liệu hóa thạch. “Chiếc bình đã vỡ, thiệt hại đã xảy ra - sẽ rất khó để ghép lại như cũ. Điều này sẽ để lại hậu quả lâu dài đối với thị trường năng lượng toàn cầu trong nhiều năm tới”, ông nói, theo The Guardian.
Cuộc khủng hoảng, vốn phơi bày điểm yếu của các tuyến cung ứng như Eo biển Hormuz, đã làm suy giảm niềm tin vào dầu khí. “Cách nhìn về rủi ro và độ tin cậy sẽ thay đổi. Các chính phủ sẽ xem xét lại chiến lược năng lượng của mình”, ông Birol nói, đồng thời cho biết quy mô cú sốc là “lớn hơn tất cả các cuộc khủng hoảng lớn cộng lại, vì vậy là rất lớn”.
Ông cũng bày tỏ lo ngại về sự mong manh của chuỗi cung ứng toàn cầu. “Tôi vẫn không hiểu vì sao thế giới lại bị bất ngờ đến vậy, khi nền kinh tế toàn cầu có thể bị “giữ làm con tin” bởi một eo biển rộng 50 km”.
Theo IEA, sự suy giảm niềm tin vào nhiên liệu hóa thạch đang thúc đẩy đầu tư vào năng lượng thay thế. “Sẽ có cú hích đáng kể đối với năng lượng tái tạo và điện hạt nhân, cùng với xu hướng chuyển mạnh hơn sang một tương lai điện hóa”, ông Birol nói, đồng thời chỉ ra những thay đổi có thể làm giảm nhu cầu dầu một cách lâu dài.
Các yếu tố kinh tế cũng đang củng cố quá trình chuyển dịch. Ông Birol cho biết công nghệ năng lượng tái tạo - đặc biệt là điện mặt trời - hiện đã cạnh tranh về chi phí với than đá, kể cả ở các nước đang phát triển. “Tôi chưa từng nghe ai hối tiếc vì đầu tư vào năng lượng tái tạo”, ông nói, đồng thời cho biết thêm: “Tôi không thấy bất kỳ mặt bất lợi nào của năng lượng tái tạo”.
Xu hướng này dự kiến sẽ nổi bật tại một hội nghị quốc tế sắp tới ở Colombia, nơi hơn 50 chính phủ sẽ thảo luận về phản ứng phối hợp và quá trình chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch.
Tại Vương quốc Anh, cuộc khủng hoảng đã làm gia tăng tranh luận về các dự án dầu khí ở Biển Bắc, bao gồm các mỏ Jackdaw và Rosebank được đề xuất. Tranh cãi xoay quanh việc liệu chính phủ có nên cấp phép khai thác cho các khu vực đã có giấy phép thăm dò nhưng chưa được phê duyệt khai thác hay không.
Đảng Lao động cầm quyền cam kết dừng cấp phép thăm dò mới nhưng chưa làm rõ quan điểm đối với các dự án đang phát triển, dẫn tới sức ép từ các nhóm ngành và đối thủ chính trị.
Ông Birol cho rằng các mỏ mới sẽ không cải thiện đáng kể an ninh năng lượng của quốc gia này. “Những mỏ này sẽ không thay đổi nhiều đối với an ninh năng lượng của Anh, cũng không làm thay đổi giá dầu khí. Chúng sẽ không tạo ra khác biệt đáng kể đối với cuộc khủng hoảng này”, ông nói.
Ông cũng cho rằng việc tăng sản lượng sẽ không giúp giảm đáng kể chi phí cho người tiêu dùng. “Chúng sẽ không làm giảm hóa đơn, Anh vẫn sẽ là nước nhập khẩu lớn và phải chấp nhận giá trên thị trường quốc tế. Tôi thậm chí chưa nói đến ảnh hưởng biến đổi khí hậu - chỉ xét về góc độ kinh doanh, việc đầu tư lớn vào thăm dò có thể không hợp lý”, ông nói thêm.
Một nguồn tin từ Đảng Lao động cho biết chính phủ hoan nghênh quan điểm của ông Birol, nói rằng: “Chúng tôi vui mừng khi nhà kinh tế năng lượng hàng đầu thế giới một lần nữa khẳng định ủng hộ quá trình chuyển dịch công bằng và có kiểm soát tại Biển Bắc”.
Các nhà phân tích cũng đặt câu hỏi về tính hiệu quả kinh tế của các dự án mới. Chuyên gia Ed Matthew từ tổ chức nghiên cứu E3G cho biết: “Ông Birol chỉ đơn giản phản ánh điều mà mọi nhà phân tích năng lượng độc lập, tỉnh táo đều thấy. Trữ lượng nhiên liệu hóa thạch của Anh đã cạn kiệt 90% và sẽ không giúp giảm hóa đơn”.
Ông nói thêm: “Con đường hiệu quả duy nhất để đảm bảo an ninh năng lượng và kinh tế là năng lượng sạch trong nước. Tất cả các đảng phái nên đoàn kết quanh mục tiêu này. Việc họ không làm vậy cho thấy họ thực sự đại diện cho lợi ích của ai”.
Các nhà vận động môi trường cũng bày tỏ lo ngại tương tự. Tessa Khan từ tổ chức Uplift cho biết: “Nhóm vận động hành lang dầu khí đã tận dụng thời điểm này để thúc đẩy khai thác nhiều hơn, ngay khi các quốc gia đang nhanh chóng chuyển sang năng lượng tái tạo để ứng phó xung đột”. “Nhượng bộ những yêu cầu này có nguy cơ trói buộc Anh vào một hệ thống nhiên liệu hóa thạch đầy biến động và ngày càng lỗi thời, đúng lúc thế giới đang rời bỏ nó”, bà nói thêm.
Dù phản đối các dự án quy mô lớn mới, ông Birol cho rằng các mở rộng nhỏ dựa trên hạ tầng hiện có vẫn có thể khả thi, khi các chính phủ phải cân bằng giữa an ninh năng lượng, chi phí và tốc độ chuyển dịch.
Nh.Thạch
AFP
-
Tàu LNG đầu tiên vượt qua eo biển Hormuz
-
Vì sao quyền kiểm soát của Iran tại eo biển Hormuz khó bị phá vỡ?
-
Mỹ tăng chuyển nhiên liệu quân sự sang Thái Bình Dương do gián đoạn Hormuz
-
Mỹ tăng cường rà phá thủy lôi, thúc đẩy khôi phục tuyến vận tải Hormuz
-
"Điểm nóng" Trung Đông ngày 26/4: Các tàu được phép đi qua eo biển Hormuz
-
Khủng hoảng dầu mỏ đẩy nhanh làn sóng năng lượng tái tạo
-
Chấm dứt hiệu lực Quyết định 893/QĐ-TTg: Cập nhật quy hoạch năng lượng theo hướng mới
-
Gia Lai chấp thuận 4 dự án năng lượng tái tạo gần 5.000 tỷ đồng
-
Đại biểu Quốc hội cảnh báo nguy cơ thiếu điện, nghẽn truyền tải
-
Nghị quyết 109: Kích hoạt hai “mũi nhọn” điện hạt nhân và điện gió ngoài khơi
