Vì sao chủ trương đúng vẫn chậm đi vào cuộc sống?

07:00 | 26/10/2026

14 lượt xem
|
(PetroTimes) - “Vì sao chủ trương đúng nhưng công việc vẫn chậm, nguồn lực chưa được phát huy, trách nhiệm chưa được thực hiện đầy đủ?”, câu hỏi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 ngày 16/10, không chỉ gợi mở những vấn đề về phương thức lãnh đạo, tổ chức thực hiện và trách nhiệm cán bộ, mà còn chạm đến một yêu cầu có ý nghĩa sống còn đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Đằng sau sự chậm trễ

Một chủ trương đúng giống như hạt giống tốt. Nhưng hạt giống, dù có sức sống đến đâu, cũng không thể tự mình hóa thành mùa màng nếu thiếu đất lành, nước tưới, bàn tay vun trồng và sự chăm sóc bền bỉ. Giữa quyết sách và kết quả luôn có một hành trình. Giữa ý chí chính trị và chuyển động của đời sống luôn có những khâu tổ chức, những con người chịu trách nhiệm, những điều kiện cần được bảo đảm. Nếu một mắt xích bị tắc nghẽn, cả guồng máy có thể vận hành chậm chạp. Nếu người được giao việc thiếu năng lực, thiếu trách nhiệm, hoặc đặt lợi ích riêng lên trên lợi ích chung, chủ trương dù đúng vẫn có nguy cơ nằm lại trên giấy. Bởi thế, vấn đề không chỉ là ban hành được bao nhiêu nghị quyết, xây dựng được bao nhiêu chương trình hành động, mà quan trọng hơn là những quyết sách ấy đã làm thay đổi điều gì trong thực tiễn.

Từ lâu, chúng ta đã nhấn mạnh yêu cầu nói đi đôi với làm, nghị quyết phải gắn với hành động, lãnh đạo phải gắn với kiểm tra, đánh giá phải căn cứ vào kết quả. Thế nhưng, giữa yêu cầu và thực tế đôi khi vẫn tồn tại một khoảng cách đáng suy ngẫm. Có nhiệm vụ được xác định rất rõ nhưng triển khai chậm. Có nguồn lực đã huy động nhưng chưa được đưa vào sử dụng hiệu quả. Có công việc được phân công nhưng trách nhiệm chưa được thực hiện đầy đủ. Khoảng cách ấy không thể được khỏa lấp bằng những bản báo cáo đẹp, những lời giải thích chung chung hay những cuộc tổng kết chỉ nhấn mạnh thành tích. Nó đòi hỏi phải nhìn thẳng vào nguyên nhân, từ chất lượng tham mưu, cách thức lãnh đạo đến năng lực cán bộ, cơ chế phối hợp và kỷ luật thực thi.

Vì sao chủ trương đúng vẫn chậm đi vào cuộc sống?
Quang cảnh Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIV tại điểm cầu Trung tâm - Phòng họp Diên Hồng, Nhà Quốc hội, Hà Nội. (Ảnh: TTXVN)

Trước hết, cần nhìn nhận một sự thật: Chủ trương đúng mới là điều kiện cần, chưa phải điều kiện đủ để tạo nên kết quả đúng. Một quyết sách muốn đi vào cuộc sống phải được cụ thể hóa thành cơ chế, chính sách và những nhiệm vụ có thể thực hiện; phải xác định rõ ai làm, làm việc gì, trong thời hạn nào, bằng nguồn lực nào và chịu trách nhiệm ra sao. Nếu chủ trương đã ban hành nhưng văn bản hướng dẫn chậm được hoàn thiện, thẩm quyền chưa được phân định, nguồn lực chưa được bố trí hoặc cơ chế phối hợp còn chồng chéo, công việc khó tránh khỏi đình trệ. Khi ấy, điều cần làm không phải là tiếp tục ban hành thêm những kế hoạch na ná nhau, mà là tìm đúng điểm nghẽn để tháo gỡ.

Một bộ máy có thể rất bận rộn mà hiệu quả vẫn thấp. Họp nhiều chưa chắc công việc đã chạy nhanh. Đôi khi, công việc được chuyển từ bàn này sang bàn khác, qua nhiều tầng nấc ký duyệt, trong khi điều mà người dân cần chỉ là một thủ tục được giải quyết đúng hạn. Cái giá của sự trì trệ không chỉ nằm ở số ngày chờ đợi. Đó còn là chi phí cơ hội của doanh nghiệp, là nguồn lực xã hội bị bỏ phí, là những dự định phát triển phải trì hoãn và là sự kiên nhẫn của người dân bị thử thách.

Đằng sau sự chậm trễ ấy, trước hết phải xem xét chất lượng và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ. Có người chưa đủ năng lực chuyên môn, chưa theo kịp yêu cầu mới, lúng túng trước những vấn đề chưa có tiền lệ. Có người quen với lề lối cũ, ngại đổi mới, không muốn rời khỏi vùng an toàn, nhất là trong nền kinh tế số. Cũng có người sợ sai, sợ trách nhiệm, sợ va chạm đến mức chọn không làm thay vì chủ động tìm cách làm đúng. Họ có thể viện dẫn đủ loại lý do để giải thích cho sự chậm trễ, nhưng cuối cùng, công việc vẫn nằm đó, người dân vẫn phải chờ và mục tiêu chung vẫn bị ảnh hưởng.

Đáng ngại hơn cả là khi sự né tránh trở thành thói quen, còn đùn đẩy trách nhiệm trở thành cách tự bảo vệ. Khi thành tích xuất hiện, người ta dễ nhận phần đóng góp về mình, khi khó khăn nảy sinh, trách nhiệm lại được chuyển cho tập thể, cấp trên, cấp dưới hoặc một cơ quan khác. Hồ sơ đi qua nhiều bàn nhưng không ai muốn là người quyết định. Cuộc họp kết thúc bằng sự thống nhất chung, nhưng không xác định rõ ai phải làm và khi nào phải hoàn thành. Công việc không bị từ chối công khai, chỉ bị trì hoãn bằng những lời hẹn chưa có điểm kết thúc.

Một nền hành chính như vậy có thể vẫn đầy đủ quy trình, nhưng thiếu điều quan trọng nhất: tinh thần phụng sự và trách nhiệm đến cùng. Kỷ luật công vụ không thể chỉ được đo bằng việc cán bộ có mặt đúng giờ, dự đủ cuộc họp hay hoàn thành đủ số văn bản. Điều cốt yếu là nhiệm vụ được giao có tạo ra kết quả hay không, vướng mắc có được chủ động tháo gỡ hay không, quyền lợi chính đáng của người dân có được bảo đảm hay không. Người cán bộ có trách nhiệm không phải là người không bao giờ gặp khó khăn, mà là người không lấy khó khăn làm lý do để bỏ mặc công việc.

Tất nhiên, cũng không thể vì yêu cầu tiến độ mà giản đơn hóa mọi vấn đề, càng không thể đồng nhất tinh thần dám làm với sự tùy tiện. Có những quyết định cần được cân nhắc kỹ lưỡng để bảo đảm đúng pháp luật, đúng thẩm quyền, không gây thiệt hại lâu dài. Có những dự án chậm do vướng mắc khách quan, do quy định chưa thống nhất hoặc do điều kiện thực hiện chưa được bảo đảm. Vì vậy, đánh giá cán bộ phải dựa trên hoàn cảnh, thẩm quyền, năng lực, quá trình xử lý và kết quả cụ thể. Phải phân biệt người thiếu năng lực với người thiếu điều kiện, người thận trọng có trách nhiệm với người cố tình trì hoãn, người mắc sai sót với người lợi dụng chức vụ để trục lợi. Phân biệt đúng mới có thể xử lý đúng. Xử lý đúng mới tạo được kỷ luật mà không triệt tiêu động lực hành động.

Bởi vậy, khái niệm tinh thần trách nhiệm cần được đặt trong một cơ chế có khả năng nhận diện, kiểm tra và xử lý. Mỗi nhiệm vụ phải có đầu mối chịu trách nhiệm; mỗi kết quả phải có tiêu chí đánh giá; mỗi sự chậm trễ phải được làm rõ nguyên nhân. Mỗi kết luận kiểm tra phải đi kèm biện pháp khắc phục và thời hạn thực hiện. Nếu kiểm tra chỉ dừng lại ở việc phát hiện khuyết điểm, còn việc sửa chữa bị bỏ ngỏ, thì kiểm tra cũng khó phát huy hết ý nghĩa. Nếu trách nhiệm chỉ được nhắc đến trong hội nghị mà không gắn với đánh giá, bố trí và sử dụng cán bộ, lời nhắc nhở dễ trở thành tiếng vang rồi tan biến.

Cùng với đó, việc thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Dân chủ không phải là hình thức để hợp thức hóa những quyết định đã có sẵn. Tập trung cũng không đồng nghĩa với việc mọi ý kiến khác biệt đều phải im tiếng. Một tập thể lãnh đạo có chất lượng phải biết lắng nghe ý kiến phản biện, phát hiện những điểm chưa hợp lý, tranh luận trên cơ sở nguyên tắc và chứng cứ, sau đó thống nhất quyết định và tổ chức thực hiện. Khi đã có quyết định đúng quy trình, mỗi cá nhân được giao nhiệm vụ phải thực hiện nghiêm túc; khi phát hiện sai sót, phải có cơ chế kiểm tra, điều chỉnh và chịu trách nhiệm.

Nhìn thẳng, nói thẳng về những hạn chế, sai sót không làm suy yếu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trái lại, đó là điều kiện để công tác này đi vào thực chất. Một tổ chức có sức sống không phải là tổ chức không bao giờ có khuyết điểm, mà là tổ chức có khả năng nhận diện khuyết điểm, truy tìm nguyên nhân, sửa chữa sai lầm và ngăn ngừa tái diễn. Uy tín không thể được bảo vệ bền vững bằng cách né tránh sự thật. Uy tín chỉ được củng cố khi những điều chưa đúng được gọi đúng tên, trách nhiệm được xác định công bằng và những chuyển biến tích cực được kiểm chứng bằng kết quả.

Tỉnh táo trước những thông tin sai lệch

Vấn đề tổ chức thực hiện chủ trương đúng có mối liên hệ trực tiếp với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Những hạn chế trong thực tiễn, nếu không được nhận diện và xử lý thỏa đáng, có thể trở thành đối tượng để các thông tin sai lệch khai thác, bóp méo và khuếch đại. Một cán bộ vi phạm có thể bị người ta lợi dụng để quy kết cả đội ngũ. Một dự án chậm tiến độ có thể bị biến thành kết luận rằng mọi quyết sách đều không khả thi. Một vụ tham nhũng có thể bị viện dẫn để phủ nhận mọi nỗ lực phòng, chống tham nhũng. Từ một sự việc cụ thể, người ta có thể đi đến một kết luận bao trùm mà không đưa ra đầy đủ chứng cứ cho bước chuyển ấy.

Cần nhận diện rõ phương thức lập luận lấy cái riêng để phủ định cái chung, lấy một hiện tượng để thay thế toàn bộ bức tranh, lấy sai phạm của một cá nhân để quy kết động cơ của cả tập thể. Sự nguy hiểm nằm ở chỗ thông tin bị bóp méo đôi khi không bắt đầu từ một sự kiện hoàn toàn bịa đặt. Nó có thể xuất phát từ một chi tiết có thật, nhưng chi tiết ấy bị tách khỏi bối cảnh, bị cắt xén hoặc được đặt bên cạnh những lời bình nhằm dẫn người đọc đến một kết luận định sẵn. Một đoạn phát biểu bị tách khỏi toàn bộ nội dung, một hình ảnh cũ gắn với sự kiện mới, một kết quả chưa được xác minh được trình bày như sự thật cuối cùng. Tất cả đều có thể làm sai lệch nhận thức nếu người tiếp nhận không kiểm tra nguồn tin.

Một phương thức khác là biến sự phê bình chính đáng thành đối kháng, biến khác biệt về quan điểm thành bằng chứng của chia rẽ, từ đó khoét sâu những nghi ngờ trong tổ chức và giữa tổ chức với nhân dân. Nếu một ý kiến phản biện có căn cứ bị cố tình diễn giải thành hành vi chống đối, người ta có thể làm tổn hại chính môi trường dân chủ cần thiết để phát hiện sai sót. Ngược lại, nếu những lời vu khống, bịa đặt được khoác lên chiếc áo phê bình để gây tổn hại danh dự, kích động thù ghét hoặc chia rẽ, chúng cũng cần được xem xét và xử lý theo quy định pháp luật. Điều cần bảo vệ là quyền phản ánh, phê bình chính đáng, đồng thời ngăn chặn hành vi cố tình bóp méo sự thật và gây tổn hại cho người khác.

Tuy nhiên, trong cuộc đấu tranh này, phải hết sức tỉnh táo để không đánh đồng mọi ý kiến trái chiều với thông tin xuyên tạc, không xem mọi sự bất bình của người dân là biểu hiện của sự chống phá. Người dân có quyền đặt câu hỏi khi một công trình chậm tiến độ, có quyền yêu cầu giải thích khi hồ sơ bị kéo dài, có quyền phản ánh khi gặp thái độ thiếu trách nhiệm hoặc nghi ngờ có dấu hiệu tiêu cực. Những phản ánh ấy, nếu có căn cứ, cần được tiếp nhận và xử lý nghiêm túc. Một thông tin phê phán có thể gây khó chịu cho người bị phê phán, nhưng sự khó chịu không phải là bằng chứng cho thấy thông tin ấy sai. Phải căn cứ vào sự thật, chứng cứ và pháp luật để phân định đúng, sai.

Đây là ranh giới quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng. Việc kiên quyết đấu tranh với sự xuyên tạc không có nghĩa là né tránh sự thật; bảo vệ uy tín của tổ chức không đồng nghĩa với bao che cho khuyết điểm; giữ gìn đoàn kết không có nghĩa là che lấp những bất đồng cần thiết để tìm ra cách làm đúng. Đoàn kết bền vững phải được xây dựng trên nguyên tắc, kỷ luật, sự thẳng thắn và niềm tin có cơ sở. Niềm tin của nhân dân cũng không thể chỉ được vun đắp bằng những lời kêu gọi, mà cần được bồi đắp bằng chất lượng phục vụ, sự công bằng trong thực thi công vụ và khả năng giải quyết những vấn đề cụ thể của đời sống.

Bảo vệ lẽ phải, bảo vệ niềm tin

Từ tinh thần chỉ đạo mới nhất của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, yêu cầu đặt ra là phải gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện và phát huy trách nhiệm của đội ngũ cán bộ. Việc đánh giá cán bộ phải được chuyển hóa thành hành động kịp thời: giao việc phù hợp, bồi dưỡng người cần nâng cao năng lực, bố trí lại người không đáp ứng yêu cầu và xử lý nghiêm người vi phạm. Không nên đợi đến hết nhiệm kỳ mới xem xét một cán bộ có hoàn thành nhiệm vụ hay không. Cũng không thể lấy việc bố trí lại thay cho xử lý những vi phạm đã được xác định. Mọi quyết định về cán bộ phải có căn cứ, đúng quy định và hướng đến hiệu quả công việc.

Cùng với đó, cần rà soát các chương trình hành động để loại bỏ chồng chéo, tránh tình trạng nhiệm vụ đã giao lại tiếp tục được giao bằng một kế hoạch mới, còn trách nhiệm thực hiện thì không được làm rõ. Những nhiệm vụ có tác động lớn phải xác định cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp, thẩm quyền, thời hạn, nguồn lực và kết quả cần đạt. Nguồn lực đã huy động phải được đưa vào sử dụng; vốn đầu tư công phải được giải ngân gắn với chất lượng và hiệu quả công trình; các dự án tồn đọng, kéo dài phải được xem xét, xử lý theo thẩm quyền để hạn chế lãng phí. Việc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, sản xuất, kinh doanh cũng cần được xem là một thước đo cụ thể của chất lượng điều hành.

Đặc biệt, kiểm tra, giám sát phải đi trước một bước, bám sát những nhiệm vụ trọng tâm và phát hiện sớm nguy cơ chậm trễ, sai phạm. Người lãnh đạo không thể chỉ ngồi trong phòng làm việc chờ báo cáo, mà cần xuống cơ sở, trực tiếp nắm tiến độ và điều kiện thực hiện. Khi kết quả chưa đạt, phải xác định nguyên nhân bắt nguồn từ quyết định chưa phù hợp, nguồn lực chưa bảo đảm, cơ chế phối hợp còn bất cập hay trách nhiệm của người thực hiện chưa đầy đủ. Kết luận kiểm tra phải chỉ rõ việc cần khắc phục, người chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành; sau kết luận phải tiếp tục theo dõi, kiểm chứng, không để khuyết điểm được ghi nhận rồi lại chìm vào quên lãng.

Bên cạnh kỷ luật thực thi, công khai thông tin và trách nhiệm giải trình cũng là yêu cầu không thể thiếu. Khi một chính sách phát sinh vướng mắc, cơ quan có trách nhiệm cần giải thích rõ nguyên nhân và phương án tháo gỡ. Khi một vụ việc có dấu hiệu vi phạm, cần thông tin kịp thời về tiến trình xử lý trong phạm vi pháp luật cho phép. Khi thông tin ban đầu không chính xác, phải chủ động đính chính. Sự minh bạch không làm giảm đi vai trò của tổ chức, trái lại, nó giúp những quyết định đúng đắn được hiểu đúng, giúp những sai sót được phát hiện sớm và giúp người dân có cơ sở kiểm chứng những điều đang được công bố.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xét đến cùng, không chỉ là cuộc đấu tranh trên mặt trận thông tin, lý luận, mà còn là cuộc đấu tranh trong từng công việc cụ thể để bảo vệ tính đúng đắn của chủ trương bằng hiệu quả thực hiện. Một hồ sơ được giải quyết đúng hạn, một dự án lãng phí được xử lý dứt điểm, một cán bộ yếu kém được bố trí lại đúng lúc, một hành vi tham nhũng được phát hiện và xử lý công bằng. Những việc ấy có thể không tạo ra tiếng vang lớn, nhưng chúng góp phần củng cố niềm tin bằng những bằng chứng cụ thể. Một quyết sách được thực hiện đến nơi đến chốn có sức thuyết phục hơn nhiều lời khẳng định chung chung về tính đúng đắn của nó.

Câu hỏi “Vì sao chủ trương đúng nhưng công việc vẫn chậm?” vì thế không chỉ là câu hỏi về tiến độ. Đó còn là câu hỏi về năng lực lãnh đạo, chất lượng cán bộ, kỷ luật tổ chức, trách nhiệm giải trình và mối quan hệ giữa lời nói với hành động. Trả lời được câu hỏi ấy bằng những việc làm cụ thể cũng chính là cách khắc phục những sơ hở có thể bị lợi dụng để xuyên tạc, chia rẽ, là cách phân biệt rõ phê bình có trách nhiệm với bóp méo sự thật, là cách bảo vệ niềm tin bằng kết quả thay vì chỉ bằng lời khẳng định.

Suy cho cùng, điều thuyết phục nhất không phải là chúng ta có bao nhiêu chủ trương đúng, mà là những chủ trương ấy đã giải quyết được bao nhiêu vấn đề của cuộc sống. Điều bảo vệ niềm tin tốt nhất không phải là yêu cầu mọi người không hoài nghi, mà là tạo ra những điều kiện để người dân có thể kiểm chứng, giám sát và nhìn thấy sự thay đổi bằng chính trải nghiệm của mình. Khi trách nhiệm không còn bị đùn đẩy, nguồn lực không còn bị bỏ phí, sai phạm không bị che giấu và những quyết sách đúng được thực hiện đến nơi đến chốn, khoảng cách giữa chủ trương và cuộc sống sẽ dần được thu hẹp.

Hải Đường