Thu ngân sách của ngành Thuế giảm mạnh, chỉ bằng 55,8% so với cùng kỳ 2020

15:29 | 11/10/2021

|
(PetroTimes) - Tổng thu ngân sách do cơ quan thuế quản lý tháng 9/2021 đạt 52.000 tỷ đồng, bằng 4,7% so với dự toán và chỉ bằng 55,8% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó, thu nội địa ước đạt 48.600 tỷ đồng, bằng 4,4% so với dự toán pháp lệnh, bằng 53,4% so với cùng kỳ.

Lý giải rõ hơn về vấn đề này, Tổng cục Thuế cho biết, mặc dù thu ngân sách nhà nước (NSNN) 9 tháng đầu năm 2021 vẫn bám sát dự toán được giao, nhưng nguồn tăng thu tập trung chủ yếu trong 4 tháng đầu năm. Tuy nhiên, từ cuối tháng 4 đến nay, đợt dịch bệnh Covid-19 bùng phát với mức độ lây nhiễm mạnh của các chủng virus mới, diễn biến phức tạp tại một số địa bàn trọng điểm kinh tế và có nhiều khu công nghiệp lớn như: TP. Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Bà Rịa - Vũng Tàu… nhiều địa phương đã phải thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16 của Thủ tướng Chính phủ khiến các cơ sở thương mại, hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ đã có những ảnh hưởng đến kinh tế và số thu NSNN.

Trong đó, thu thuế phí nội địa (loại trừ yếu tố gia hạn) từ mức tăng 19,6% của 4 tháng đầu năm 2021, đến tháng 7 giảm 10,8%, tháng 8 giảm 21%, tháng 9 ước giảm 26,5% so với cùng kỳ. Về quy mô, số thu thuế, phí nội địa (loại trừ yếu tố gia hạn) không kể khoản thu phát sinh theo quý cũng đang giảm mạnh qua từng tháng. Đáng chú ý do thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 CT-TTg tại TP. Hồ Chí Minh và 19 tỉnh, thành phố phía Nam nên thu từ lệ phí trước bạ tại các tỉnh này giảm rất sâu. Tháng 8 giảm 56,5%, tháng 9 giảm 48,5% so với cùng kỳ.

Thu ngân sách của ngành Thuế giảm mạnh, chỉ bằng 55,8% so với cùng kỳ 2020
Ảnh minh hoạ

Không chỉ có vậy, theo Tổng cục Thuế, để tiếp tục hỗ trợ người dân và doanh nghiệp (DN) vượt qua khó khăn của đại dịch, đẩy nhanh tốc độ hồi phục nền kinh tế trong năm 2021, ngày 19/4/2020 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2021/NĐ-CP về việc thực hiện gia hạn tiền thuế và tiền thuê đất cho trong năm 2021, theo đó sẽ gia hạn thuế GTGT phải nộp từ tháng 3 đến tháng 8/2021, thuế GTGT quý I và quý II/2021, thuế TNDN tạm nộp quý I và quý II/2021, gia hạn tiền thuê đất kỳ 1 năm 2020 cho các DN và gia hạn thuế GTGT, TNCN năm 2021 đối với hộ, cá nhân kinh doanh thuộc các ngành, lĩnh vực gặp khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19.

Có thể nhận thấy, những giải pháp này cũng đã ảnh hưởng đến kết quả thu ngân sách. Ước thực hiện tháng 9, tổng số tiền cơ quan thuế tiếp tục thực hiện gia hạn tiền thuế theo Nghị định số 52/2021/NĐ-CP ngày 19/4/2021 khoảng 4.000 tỷ đồng (thuế GTGT phải nộp của kỳ khai thuế tháng 8/2021). Lũy kế hết 9 tháng đầu năm, cơ quan thuế thực hiện gia hạn với tổng số tiền thuế, tiền thuê đất gia hạn là khoảng 78.501 tỷ đồng trong đó: thuế GTGT là khoảng 44.916 tỷ đồng, thuế TNDN khoảng 30.887 tỷ đồng, thuế GTGT và TNCN của hộ khoảng 327 tỷ đồng, tiền thuê đất là khoảng 2.371 tỷ đồng.

Đến thời điểm hiện nay, một số địa phương bị ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch bệnh đã dần nới lỏng các biện pháp giãn cách xã hội từ thực hiện Chỉ thị số 16 của Thủ tướng Chính phủ xuống thực hiện theo Chỉ thị số 15, tuy nhiên số lượng người nhiễm bệnh giảm chậm, diễn biến tình hình dịch bệnh vẫn còn phức tạp do đó, thu NSNN trong quý IV/2021 dự báo vẫn còn rất nhiều khó khăn, rủi ro.

Để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN năm 2021 được Quốc hội, Chính phủ giao ở mức cao nhất, từ nay đến cuối năm, cơ quan thuế các cấp sẽ tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện tốt Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về thuế, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, đẩy mạnh điện tử hóa quản lý thuế theo tinh thần Nghị quyết số 02-2021/NQ-CP của Chính phủ; Tổ chức tuyên truyền kịp thời đối với các chính sách miễn, giảm thuế sau khi Chính phủ ban hành Nghị định, khẩn trương đưa chính sách vào cuộc sống, hỗ trợ kịp thời cho người nộp thuế có thêm nguồn lực để khôi phục và phát triển sản xuất kinh doanh.

Bên cạnh đó, ngành Thuế tiếp tục tăng cường quản lý theo dõi số tiền thuế, tiền thuê đất đã được gia hạn và đôn đốc thu vào NSNN đối với những khoản tiền thuế, tiền thuê đất đã được gia hạn vào NSNN khi hết thời gian gia hạn trong những tháng cuối năm 2021. Đồng thời, triển khai thực hiện tốt các chính sách gia hạn, miễn, giảm tiền thuế, phí, tiền thuê đất mà Chính phủ, Quốc hội tiếp tục ban hành trong những tháng cuối năm 2021 để hỗ trợ DN và người dân vượt qua đại dịch.

Trong thời gian tới, ngành Thuế tiếp tục bám sát diễn biến tình hình hoạt động kinh doanh của các DN, đồng thời, quản lý chặt chẽ công tác kê khai, nộp thuế, hoàn thuế, đôn đốc DN thực hiện nộp đúng, đủ, kịp thời các khoản thu vào NSNN, nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra, chống thất thu, quản lý chặt chẽ tình hình nợ đọng thuế.

Để đảm bảo nguồn thu ngân sách trong những tháng cuối năm, Tổng cục Thuế yêu cầu các cục thuế, chi cục thuế tăng cường công tác quản lý, phát hiện các trường hợp lợi dụng chính sách ưu đãi để trốn thuế, tránh thuế, dây dưa, chây ỳ nợ thuế...; rà soát các lĩnh vực còn tiềm năng, các lĩnh vực phát triển tốt trong điều kiện dịch bệnh (thương mại điện tử, kinh doanh online, chứng khoán, bất động sản…) nhất là tại các TP lớn, nơi tập trung đông dân cư.

Song song với đó, các cơ quan thuế địa phương sẽ đẩy mạnh công tác phối hợp với các sở, ban, ngành, trao đổi thông tin với văn phòng đăng ký đất đai tại địa phương... để tham mưu cho UBND tỉnh, thành phố kịp thời tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế, chính sách, thủ tục để triển khai nhanh đối với các dự án, kịp thời đôn đốc các nguồn thu từ đất đai vào NSNN.

Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tài chính để rà soát, đôn đốc thu NSNN đối với các nguồn thu thuộc ngân sách trung ương như: thu từ dầu, khí, thu cổ tức và lợi nhuận còn lại, các khoản thu từ phí, lệ phí, thu từ đất đai, thu từ chênh lệch thu chi của Ngân hàng Nhà nước và các khoản thu khác của ngân sách trung ương.

Hải Anh

Mở rộng giải pháp cấp vốn cho doanh nghiệpMở rộng giải pháp cấp vốn cho doanh nghiệp
Chủ tịch Quốc hội: Người dân và doanh nghiệp luôn ở vị trí trung tâmChủ tịch Quốc hội: Người dân và doanh nghiệp luôn ở vị trí trung tâm
Giải pháp nào “cứu nguy” doanh nghiệp?Giải pháp nào “cứu nguy” doanh nghiệp?
Liều thuốc vực dậy kinh tế cuối năm: Tiền không là tất cả!Liều thuốc vực dậy kinh tế cuối năm: Tiền không là tất cả!

  • sao-thai-duong
  • vietinbank
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL / DOJI HN lẻ 60,000 ▲50K 60,700 ▲150K
AVPL / DOJI HN buôn 60,000 ▲50K 60,700 ▲150K
AVPL / DOJI HCM lẻ 60,000 60,700
AVPL / DOJI HCM buôn 60,000 60,700
AVPL / DOJI ĐN lẻ 60,000 60,700
AVPL / DOJI ĐN buôn 60,000 60,700
Nguyên liêu 9999 - HN 51,150 ▼50K 51,350 ▼50K
Nguyên liêu 999 - HN 51,100 ▼50K 51,300 ▼50K
AVPL / DOJI CT lẻ 60,100 ▲100K 60,800 ▲100K
AVPL / DOJI CT buôn 60,100 ▲100K 60,800 ▲100K
Cập nhật: 03/12/2021 11:15
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - Bóng đổi 9999 0 0
TPHCM - PNJ 51.200 ▲50K 52.000 ▲50K
TPHCM - SJC 60.100 ▲100K 60.800 ▲100K
Hà Nội - PNJ 51.200 ▲50K 52.000 ▲50K
Hà Nội - SJC 60.070 ▲20K 60.800 ▲50K
Đà Nẵng - PNJ 51.200 ▲50K 52.000 ▲50K
Đà Nẵng - SJC 60.100 ▲100K 60.800 ▲100K
Cần Thơ - PNJ 51.200 ▲50K 52.000 ▲50K
Cần Thơ - SJC 60.300 ▲250K 60.800 ▲100K
Giá vàng nữ trang - Nhẫn PNJ (24K) 51.200 ▲50K 51.900 ▲50K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 50.800 ▲50K 51.600 ▲50K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 37.450 ▲40K 38.850 ▲40K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 28.940 ▲30K 30.340 ▲30K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.220 ▲20K 21.620 ▲20K
Cập nhật: 03/12/2021 11:15
AJC Mua vào Bán ra
Vàng trang sức 9999 5,055 ▼5K 5,205 ▼5K
Vàng trang sức 999 5,045 ▼5K 5,195 ▼5K
Vàng NT, TT Hà Nội, 3A 5,135 ▼5K 5,215 ▼5K
Vàng NL 9999 5,105 ▼5K 5,200 ▼5K
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,000 6,080
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,000 ▼10K 6,065 ▼10K
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,015 6,075 ▲5K
Vàng NT, TT Thái Bình 5,130 ▼10K 5,240
Vàng NT, TT Nghệ An 5,145 ▼10K 5,245 ▼10K
Cập nhật: 03/12/2021 11:15
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 60,200 ▲200K 60,900 ▲200K
SJC 5c 60,200 ▲200K 60,920 ▲200K
SJC 2c, 1C, 5 phân 60,200 ▲200K 60,930 ▲200K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 51,400 ▲100K 52,100 ▲100K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 51,400 ▲100K 52,200 ▲100K
Nữ Trang 99.99% 51,100 ▲100K 51,800 ▲100K
Nữ Trang 99% 50,187 ▲99K 51,287 ▲99K
Nữ Trang 68% 33,378 ▲68K 35,378 ▲68K
Nữ Trang 41.7% 19,753 ▲42K 21,753 ▲42K
Cập nhật: 03/12/2021 11:15

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,682.80 15,841.21 16,338.03
CAD 17,317.09 17,492.01 18,040.59
CHF 24,140.39 24,384.24 25,148.97
CNY 3,501.97 3,537.34 3,648.83
DKK - 3,398.89 3,526.58
EUR 25,088.49 25,341.91 26,471.43
GBP 29,504.90 29,802.92 30,737.60
HKD 2,850.80 2,879.60 2,969.91
INR - 302.91 314.80
JPY 195.42 197.40 207.11
KRW 16.70 18.56 20.33
KWD - 75,221.95 78,174.71
MYR - 5,337.25 5,449.86
NOK - 2,448.43 2,550.60
RUB - 308.01 343.22
SAR - 6,057.78 6,295.57
SEK - 2,465.08 2,567.95
SGD 16,214.62 16,378.40 16,892.06
THB 594.00 660.00 684.80
USD 22,650.00 22,680.00 22,880.00
Cập nhật: 03/12/2021 11:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 15,860 15,960 16,510
CAD 17,521 17,621 18,171
CHF 24,448 24,553 25,103
CNY - 3,535 3,645
DKK - 3,411 3,541
EUR #25,328 25,353 26,373
GBP 29,878 29,928 30,888
HKD 2,849 2,864 2,999
JPY 195.81 195.81 205.41
KRW 17.52 18.32 21.12
LAK - 1.39 2.34
NOK - 2,459 2,539
NZD 15,259 15,342 15,629
SEK - 2,488 2,538
SGD 16,182 16,282 16,882
THB 619.21 663.55 687.21
USD #22,661 22,681 22,881
Cập nhật: 03/12/2021 11:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 15,567 15,832 16,449
CAD 17,230 17,502 18,118
CHF 24,139 24,489 25,116
CNY 3,390 3,720
EUR 25,119 25,423 26,449
GBP 29,480 29,852 30,780
HKD 2,792 2,995
JPY 194.48 197.79 206.95
KRW 23
MYR 5,330 5,680
SGD 16,104 16,371 16,983
THB 588 651 703
USD (1,2) 22,541
USD (5,10,20) 22,594
USD (50,100) 22,640 22,675 22,875
Cập nhật: 03/12/2021 11:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 22,685 22,685 22,885
USD(1-2-5) 22,472 - -
USD(10-20) 22,640 - -
GBP 29,605 29,784 30,851
HKD 2,869 2,889 2,961
CHF 24,235 24,382 25,141
JPY 196.81 198 206.58
THB 637 643.44 699.76
AUD 15,768 15,863 16,338
CAD 17,381 17,486 18,045
SGD 16,290 16,388 16,865
SEK - 2,477 2,552
LAK - 1.76 2.19
DKK - 3,412 3,512
NOK - 2,460 2,534
CNY - 3,523 3,627
RUB - 279 357
NZD 15,209 15,300 15,620
KRW 17.32 19.13 20.22
EUR 25,300 25,368 26,383
TWD 743.73 - 842.46
MYR 5,053.14 - 5,527.11
Cập nhật: 03/12/2021 11:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 22,610.00 22,635.00 22,820.00
EUR 25,229.00 25,331.00 26,015.00
GBP 29,733.00 29,912.00 30,492.00
HKD 2,865.00 2,877.00 2,957.00
CHF 24,297.00 24,395.00 24,993.00
JPY 197.89 198.68 202.94
AUD 15,766.00 15,829.00 16,342.00
SGD 16,362.00 16,428.00 16,753.00
THB 649.00 652.00 689.00
CAD 17,472.00 17,542.00 17,904.00
NZD 0.00 15,229.00 15,669.00
KRW 0.00 18.46 20.25
Cập nhật: 03/12/2021 11:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 22.670 22.690 22.885
AUD 15.885 15.985 16.497
CAD 17.557 17.657 18.062
CHF 24.545 24.645 25.061
EUR 25.532 25.632 26.090
GBP 30.059 30.159 30.568
JPY 198,83 200,33 205,19
SGD 16.420 16.520 16.830
Cập nhật: 03/12/2021 11:15
  • hanh-trinh-thap-lua-pvn
  • hanh-trinh-thap-lua-pvgas