Doanh nghiệp dịch vụ ăn uống TP.HCM "đau đầu" khi được mở cửa trở lại

20:54 | 13/09/2021

|
Trong đơn tập thể gửi đến lãnh đạo TP.HCM, các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống, mô hình chuỗi cửa hàng và nhà hàng, cho biết dù TP đã cho mở cửa trở lại nhưng họ không thể thực hiện được.

Theo thư kiến nghị, các doanh nghiệp đều biểu lộ sự vui mừng khi thành phố cho phép hoạt động kinh doanh ăn uống được mở cửa trở lại từ ngày 7/9, song cho rằng việc triển khai chính sách đang gặp nhiều thách thức.

Cụ thể, môi trường nhà hàng, quán ăn không có chỗ nghỉ ngơi, sinh hoạt cho nhân viên. Việc xin giấy đi đường tại TP.HCM đang gặp nhiều khó khăn, tốn nhiều thời gian.

TP.HCM cũng cho phép loại hình kinh doanh dịch vụ ăn uống, cơ sở cung ứng dịch vụ bưu chính, viễn thông, thiết bị tin học văn phòng, thiết bị dụng cụ học tập (có giấy phép đăng ký hộ kinh doanh) được hoạt động từ 6h đến 18h hàng ngày theo hình thức bán hàng mang đi.
TP.HCM cũng cho phép loại hình kinh doanh dịch vụ ăn uống, cơ sở cung ứng dịch vụ bưu chính, viễn thông, thiết bị tin học văn phòng, thiết bị dụng cụ học tập (có giấy phép đăng ký hộ kinh doanh) được hoạt động từ 6h đến 18h hàng ngày theo hình thức bán hàng mang đi.

Ngoài ra, việc di chuyển khó khăn cũng khiến doanh nghiệp F&B bị thiếu nguyên vật liệu để sản xuất, kinh doanh, nhà cung cấp không thể giao hàng liên quận, liên tỉnh. "Thời gian cho phép bán hàng quá ngắn (đến 18h) trong khi phần lớn nhu cầu ăn uống đa số là vào buổi tối," thư kiến nghị nêu rõ. Dù không có doanh thu nhưng các doanh nghiệp kinh doanh nhà hàng, khách sạn, bán lẻ vẫn phải chi trả chi phí mặt bằng, kho bãi, nhân sự, bảo hiểm xã hội…Theo đó, quy định thực hiện mô hình “3 tại chỗ” (sản xuất tại chỗ, ăn tại chỗ, ngủ/nghỉ tại chỗ) đã khiến các doanh nghiệp, người kinh doanh "bó tay". Bởi hiện nay nhà hàng không có khu vực tắm rửa và nghỉ ngơi cho nhân viên, rất nóng và ngột ngạt khi đóng cửa vào cuối ngày, do đó không đảm bảo sức khỏe và không phù hợp để làm nơi ở cho nhân viên.

Thời gian bán hàng là từ 6 giờ sáng đến 18 giờ là quá ngắn, không kịp thực hiện các đơn hàng phục vụ giờ ăn tối của người dân. Quy định nhân viên phải được xét nghiệm nhanh âm tính với Covid-19 hai ngày/lần, với mức phí doanh nghiệp tự chi trả cho xét nghiệm nhanh sẽ khiến tăng chi phí hoạt động. Trong khi đó, đa số nhân viên nhà hàng đã trở về tỉnh và chưa được tiêm vắc xin nên khó trở lại TP.HCM để làm việc.

Một nguyên nhân nữa khiến việc mở cửa khó thành hiện thực là thiếu nguyên vật liệu do một số hạn chế trong việc giao hàng liên tỉnh, liên quận của các nhà cung cấp.

Từ những khó khăn nêu trên, các doanh nghiệp kiến nghị lên lãnh đạo UBND TP.HCM và các cơ quan ban ngành có những chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người lao động và các doanh nghiệp bán lẻ, dịch vụ ăn uống, mô hình chuỗi cửa hàng, nhà hàng bằng các giải pháp như: ưu tiên tiêm vắc xin cho người lao động đang hoạt động trong lĩnh vực này.

khó đáp ứng được quy định
Nhiều doanh nghiệp cho biết khó đáp ứng được quy định "3 tại chỗ" vì không gian nhỏ, không có chỗ nấu ăn, không bố trí được chỗ ở lại cho nhân viên.

Những người được tiêm ít nhất 1 mũi có thể trở lại làm việc tại văn phòng và tại cơ sở kinh doanh ăn uống, bán lẻ, dịch vụ. Doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm kiểm tra sức khỏe cho nhân viên, đảm bảo tuân thủ 5K nghiêm ngặt. Cho phép nhân sự giao hàng riêng của doanh nghiệp bán lẻ và dịch vụ được đi giao hàng chứ không giới hạn chỉ có tài xế công nghệ được di chuyển. Đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp sản xuất có đủ nguồn cung nguyên vật liệu (kể cả các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phụ trợ như bao bì, tem nhãn...).

Các doanh nghiệp cũng kiến nghị cho tạm ngừng đóng bảo hiểm xã hội ít nhất đến 6 tháng sau khi công bố hết dịch. Miễn giảm 100% nghĩa vụ phải nộp bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp và người lao động trong thời gian đại dịch phải ngừng hoạt động và giãn cách xã hội. Được miễn thuế VAT trong năm 2021, giảm 50% thuế VAT trong hai năm kế tiếp 2022 - 2023, giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2021 và giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp 3 năm kế tiếp. Được chấp nhận tất cả các chi phí phát sinh trong đại dịch mà doanh nghiệp phải chịu: xét nghiệm, chi phí chống dịch và 3 tại chỗ.

Các doanh nghiệp cũng kiến nghị được cấp nguồn cho vay và hỗ trợ các doanh nghiệp trong vòng 24 tháng trong và sau dịch, hoặc hỗ trợ gói ưu đãi lãi suất cho doanh nghiệp tối thiểu 4% tương đương gói hỗ trợ năm 2008 - 2009 trong vòng hai năm kể từ ngày 1.10.2021. Cho phép thực hiện chính sách khoanh nợ, giãn nợ (cả gốc và lãi) đối với các doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động và gặp khó khăn không có khả năng thanh toán do đại dịch kéo dài. Đồng thời khoanh nợ gốc và giảm lãi suất từ 2 - 3% kể từ ngày 1.10.2021 đến 6 tháng sau khi Chính phủ công bố hết dịch đối với các doanh nghiệp còn lại.

Trả lời báo chí, ông Lê Xuân Trường, CEO hệ thống F&B chuyên bán hàng mang đi Tasty Kitchen cho biết dù bán món mang đi là lợi thế của hệ thống nhưng chưa kịp triển khai, có thể mất một thời gian nữa. Hơn nữa, doanh nghiệp phải làm thủ tục thông báo với cơ quan quản lý địa phương nếu muốn hoạt động trở lại, rồi sắp xếp lại nhân sự, nguyên liệu, nhân viên giao hàng... "Phần lớn nhân viên của chúng tôi đều đã về quê, một số ở trong khu vực phong tỏa, mất nhiều thời gian mới có thể quay trở lại. Chưa kể các điều kiện xét nghiệm, test Covid-19 và giá nguyên liệu tăng rất cao..." ông Trường nói.

Theo ông Mai Trường Giang, CEO Otoke Chicken và Chewy Chewy, doanh nghiệp F&B hiện nay đang phải chi trả rất nhiều chi phí và chấp nhận lỗ để duy trì mô hình kinh doanh mang đi. Việc giao hàng hiện nay của các cửa hàng cũng gặp nhiều khó khăn do giá giao hàng tăng vọt, lực lượng shipper không đủ, phí hoa hồng cho các ứng dụng giao hàng công nghệ là 20 - 30%. Chưa kể đến việc thành phố vẫn còn nhiều điểm phong tỏa, chưa thể giao hàng nội quận dễ dàng. "Vì vậy, chúng tôi sẽ theo dõi thêm và đưa ra kế hoạch mở lại khi tình hình ổn định hơn," ông Giang chia sẻ.

Trả lời về thông tin quán ăn chưa mở cửa do thiếu nguyên liệu, chiều 10/9, ông Nguyễn Nguyên Phương, phó giám đốc Sở Công thương TP.HCM, cho biết TP.HCM có khoảng 7.500 doanh nghiệp, hàng chục ngàn hộ kinh doanh cá thể kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống. Ông Phương khẳng định các loại thực phẩm chính hiện nay không thiếu. Việc nhiều quán ăn chưa mở lại có nhiều nguyên nhân.

Thứ nhất, về cách thức vận hành, các quán ăn phải mở lại hoạt động trong an toàn, an toàn tới đâu mở tới đó. Các loại hình này trước mắt hoạt động "3 tại chỗ", chỉ bán mang về thông qua shipper. Hiện nay người giao hàng chỉ hoạt động trong phạm vi 1 quận, huyện. Người kinh doanh phải tính toán vì "3 tại chỗ" cũng gặp một số khó khăn.

Thứ hai, là việc cách thức tiếp cận với nguồn nguyên liệu. Trước đây, người kinh doanh có các nhà cung cấp thường xuyên, chỉ cần gọi điện thoại là giao hàng hóa tới. Hiện nay, người kinh doanh phải đặt hàng qua một người khác, vì các nhà cung cấp hiện nay chưa có giấy đi đường để có thể cung cấp được.

Thứ ba, hiện nay khách hàng, người dân không được trực tiếp đi ra đường, chỉ mua thông qua shipper, mà shipper chỉ hoạt động trong quận, huyện. Có nghĩa là quán ăn này chỉ phục vụ trong phạm vi 1 quận, huyện. Các quán ăn sẽ có khả năng không có lượng khách hàng lớn như trước đây, dẫn đến việc họ sẽ cân nhắc có mở ngay lúc này hay không…

Theo Diễn đàn doanh nghiệp

Bài 2: Nghị quyết 105 - Bước ngoặt trong cuộc chiến chống dịch Covid-19Bài 2: Nghị quyết 105 - Bước ngoặt trong cuộc chiến chống dịch Covid-19
"Quản trị khủng hoảng" cho doanh nghiệp
Bài 1: Vì sao các hiệp hội ngành nghề phải kêu cứu?Bài 1: Vì sao các hiệp hội ngành nghề phải kêu cứu?

  • sao-thai-duong
  • bidv-5-goi-dich-vu-free
  • vietinbank
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL / DOJI HN lẻ 57,350 ▲150K 58,050 ▲150K
AVPL / DOJI HN buôn 57,350 ▲150K 58,050 ▲150K
AVPL / DOJI HCM lẻ 57,350 ▼100K 57,950
AVPL / DOJI HCM buôn 57,350 ▼100K 57,950
AVPL / DOJI ĐN lẻ 57,300 ▲100K 58,050 ▲100K
AVPL / DOJI ĐN buôn 57,300 ▲100K 58,050 ▲100K
Nguyên liêu 9999 - HN 50,850 ▲100K 51,100 ▲150K
Nguyên liêu 999 - HN 50,800 ▲100K 51,050 ▲150K
AVPL / DOJI CT lẻ 57,300 ▼50K 58,000 ▲50K
AVPL / DOJI CT buôn 57,300 ▼50K 58,000 ▲50K
Cập nhật: 21/10/2021 19:15
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - Bóng đổi 9999 0 0
TPHCM - PNJ 51.100 ▲200K 52.200 ▲200K
TPHCM - SJC 57.300 58.000
Hà Nội - PNJ 51.100 ▲200K 52.200 ▲200K
Hà Nội - SJC 57.400 ▲50K 58.050 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 51.100 ▲200K 52.200 ▲200K
Đà Nẵng - SJC 57.300 58.000
Cần Thơ - PNJ 51.100 ▲200K 52.200 ▲200K
Cần Thơ - SJC 57.300 58.000
Giá vàng nữ trang - Nhẫn PNJ (24K) 51.000 ▲200K 51.800 ▲200K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 50.600 ▲200K 51.400 ▲200K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 37.300 ▲150K 38.700 ▲150K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 28.820 ▲120K 30.220 ▲120K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.130 ▲80K 21.530 ▲80K
Cập nhật: 21/10/2021 19:15
AJC Mua vào Bán ra
Vàng trang sức 9999 5,015 ▲10K 5,155 ▲10K
Vàng trang sức 999 5,005 ▲10K 5,145 ▲10K
Vàng NT, TT Hà Nội, 3A 5,095 ▲10K 5,165 ▲10K
Vàng NL 9999 5,065 ▲10K 5,150 ▲10K
Vàng miếng SJC Thái Bình 5,740 ▲10K 5,830 ▲30K
Vàng miếng SJC Nghệ An 5,735 ▲10K 5,805 ▲10K
Vàng miếng SJC Hà Nội 5,750 ▲15K 5,800 ▲5K
Vàng NT, TT Thái Bình 5,090 ▲10K 5,190 ▲10K
Vàng NT, TT Nghệ An 5,080 ▲5K 5,180 ▲5K
Cập nhật: 21/10/2021 19:15
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 57,400 ▲50K 58,100 ▲50K
SJC 5c 57,400 ▲50K 58,120 ▲50K
SJC 2c, 1C, 5 phân 57,400 ▲50K 58,130 ▲50K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 51,000 ▲50K 51,700 ▲50K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 51,000 ▲50K 51,800 ▲50K
Nữ Trang 99.99% 50,600 ▲50K 51,400 ▲50K
Nữ Trang 99% 49,691 ▲49K 50,891 ▲49K
Nữ Trang 68% 33,105 ▲34K 35,105 ▲34K
Nữ Trang 41.7% 19,586 ▲21K 21,586 ▲21K
Cập nhật: 21/10/2021 19:15
BTMC Mua vào Bán ra
VÀNG MIẾNG VRTL 5,116 ▲8K 5,181 ▲8K
NHẪN TRÒN TRƠN 5,116 ▲8K 5,181 ▲8K
VÀNG MIẾNG SJC 5,751 ▲15K 5,802 ▲8K
VÀNG TRANG SỨC 5,060 ▲10K 5,170 ▲10K
99.9 (24k) 5,160 ▲10K
VÀNG HTBT 5,050 ▲10K
VÀNG NGUYÊN LIỆU 5,000 ▲10K
Cập nhật: 21/10/2021 19:15

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,692.51 16,861.12 17,389.93
CAD 18,011.51 18,193.45 18,764.05
CHF 24,142.76 24,386.62 25,151.46
CNY 3,487.02 3,522.24 3,633.26
DKK - 3,500.36 3,631.88
EUR 25,848.32 26,109.42 27,273.18
GBP 30,663.56 30,973.29 31,944.70
HKD 2,853.82 2,882.65 2,973.06
INR - 303.51 315.42
JPY 193.21 195.16 204.35
KRW 16.76 18.62 20.41
KWD - 75,363.88 78,322.29
MYR - 5,422.54 5,536.95
NOK - 2,685.88 2,797.97
RUB - 320.81 357.48
SAR - 6,051.61 6,289.17
SEK - 2,597.65 2,706.06
SGD 16,527.44 16,694.38 17,217.97
THB 603.14 670.15 695.33
USD 22,625.00 22,655.00 22,855.00
Cập nhật: 21/10/2021 19:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD - 16,744 17,444
CAD - 18,141 18,841
CHF - 24,412 25,062
CNY - 3,486 3,626
DKK - 3,469 3,639
EUR - 25,628 26,918
GBP - 30,864 32,034
HKD - 2,806 3,001
JPY - 193.24 204.04
KRW - 17.34 21.14
LAK - 1.54 2.49
NOK - 2,653 2,773
NZD - 16,085 16,495
SEK - 2,596 2,671
SGD - 16,354 17,154
THB - 668.24 696.24
USD - 22,570 22,850
Cập nhật: 21/10/2021 19:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
USD, (1,2) 22,453
USD, (5,10,20) 22,453
USD,50-100 22,639 22,659 22,849
JPY 196.31 196.10 205.10
AUD 16,550 16,779 17,381
CAD 17,963 18,183 18,785
GBP 30,746 30,994 31,896
CHF 24,240 24,493 25,096
SGD 16,576 16,666 17,267
EUR 25,991 26,195 27,195
CNY - 3,495 3,625
HKD - 2,796 2,996
THB 654 661 711
MYR - 5,398 5,551
KRW - 22.00
Cập nhật: 21/10/2021 19:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 22,655 22,655 22,855
USD(1-2-5) 22,451 - -
USD(10-20) 22,610 - -
GBP 30,747 30,933 32,000
HKD 2,870 2,891 2,963
CHF 24,238 24,384 25,152
JPY 195.74 196.92 204.68
THB 645.49 652.01 709.31
AUD 16,705 16,806 17,309
CAD 18,047 18,156 18,737
SGD 16,586 16,686 17,171
SEK - 2,608 2,685
LAK - 1.89 2.33
DKK - 3,512 3,616
NOK - 2,691 2,770
CNY - 3,507 3,610
RUB - 290 371
NZD 16,091 16,188 16,516
KRW 17.33 - 21.1
EUR 26,077 26,148 27,163
TWD 738.65 - 836.7
MYR 5,128.94 - 5,610.16
Cập nhật: 21/10/2021 19:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 22,650.00 22,670.00 22,850.00
EUR 26,153.00 26,258.00 26,809.00
GBP 30,992.00 31,179.00 31,769.00
HKD 2,876.00 2,888.00 2,968.00
CHF 24,372.00 24,470.00 25,070.00
JPY 196.18 196.97 201.15
AUD 16,808.00 16,876.00 17,398.00
SGD 16,717.00 16,784.00 17,120.00
THB 661.00 664.00 702.00
CAD 18,214.00 18,287.00 18,674.00
NZD 0.00 16,177.00 16,626.00
KRW 0.00 18.51 20.32
Cập nhật: 21/10/2021 19:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 22.650 22.690 22.862
AUD 16.840 16.940 17.444
CAD 18.248 18.348 18.751
CHF 24.550 24.650 25.063
EUR 26.281 26.381 26.836
GBP 31.195 31.295 31.702
JPY 196,94 198,44 203,34
SGD 16.716 16.816 17.124
Cập nhật: 21/10/2021 19:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
GOLD 5,726,000 5,726,000 5,784,000
USD(50,100) 22,650 22,670 23,125
USD(5, 10, 20) 22,630 22,670 23,125
USD(1,2) 22,630 22,670 23,125
EUR 26,172 26,272 26,780
GBP 31,002 31,102 31,811
JPY 196.42 197.42 202.48
CAD 18,030 18,080 18,840
AUD 16,722 16,822 17,330
SGD 16,607 16,707 17,213
CNY
THB
CHF
KRW
Cập nhật: 21/10/2021 19:15
  • pvgas-inside
  • pvgas