Tin tức kinh tế ngày 26/5: Việt Nam vào Top 10 quốc gia sản xuất thép lớn nhất thế giới
Việt Nam vào Top 10 quốc gia sản xuất thép lớn nhất thế giới
Theo số liệu mới công bố của Hiệp hội Thép thế giới (Worldsteel), sản lượng thép thô của Việt Nam trong tháng 4/2026 đạt khoảng 2,1 triệu tấn, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này giúp Việt Nam vượt Italy để lần đầu tiên góp mặt trong nhóm 10 quốc gia sản xuất thép thô lớn nhất thế giới.
![]() |
Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, ngành thép đã phát triển vượt bậc cả về quy mô sản xuất và chủng loại sản phẩm. Năm 2000, các nhà máy thép chủ yếu phải nhập phôi từ nước ngoài để cán thép xây dựng phục vụ thị trường. Tuy nhiên, từ năm 2010 đến nay, ngành thép Việt Nam đã tự chủ sản xuất được đầy đủ các loại thép đáp ứng mọi nhu cầu của nền kinh tế, phục vụ công nghiệp cơ khí chế tạo, đóng tàu, năng lượng (điện gió, giàn khoan...) đến công nghiệp quốc phòng.
Nhiều khu liên hợp sản xuất thép quy mô lớn, hiện đại được đầu tư, đi vào hoạt động. Đơn cử, Khu liên hợp gang thép Hòa Phát Dung Quất sản xuất các loại thép khó, chất lượng cao như thép cơ khí chế tạo, thép tanh bố lốp ô tô, thép dây hàn, thép làm lò xo, ốc vít, thép làm cẩu, dự ứng lực, đặc biệt là thép thanh ray đường sắt cao tốc, thép hình.
Năm 2023, Việt Nam đứng thứ 12 thế giới về sản xuất thép thô với sản lượng đạt 20 triệu tấn. Năm 2025, sản lượng thép thô của Việt Nam đạt khoảng 24,6 triệu tấn, đứng đầu Đông Nam Á và xếp thứ 11 thế giới.
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam sản xuất 8,5 triệu tấn thép thô, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Với sản lượng dự kiến năm, vị thế Top 10 quốc gia sản xuất thép hàng đầu thế giới của Việt Nam được kỳ vọng sẽ giữ vững.
Tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu - cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt Nam
Tại hội thảo “Xu hướng và giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu”, bà Vương Thị Oanh - đại diện Cục Xuất nhập khẩu (Bọ Công Thương) cho rằng, thương mại thế giới đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc sâu rộng khi xu hướng tối ưu chi phí dần nhường chỗ cho yêu cầu về an toàn chuỗi cung ứng, khả năng chống chịu và phát triển bền vững. Những biến động địa chính trị, chiến lược “China +1”, chuyển đổi số cùng các tiêu chuẩn ESG đang tạo ra sức ép sàng lọc ngày càng lớn đối với doanh nghiệp toàn cầu.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đang nổi lên như một điểm đến hấp dẫn của dòng dịch chuyển sản xuất nhờ lợi thế địa chính trị kinh tế cùng mạng lưới 17 FTA đã thực thi. Tuy nhiên, cơ hội sẽ không tự chuyển hóa thành lợi thế nếu doanh nghiệp nội địa không đủ năng lực tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, thay vì tiếp tục dừng ở các công đoạn gia công đơn giản.
Theo bà Vương Thị Oanh, việc các tập đoàn lớn như Apple, Samsung, Intel, Foxconn hay Pegatron tiếp tục mở rộng sản xuất tại Việt Nam đang kéo theo nhu cầu nội địa hóa nguồn cung ngày càng lớn nhằm tối ưu logistics và tận dụng ưu đãi thuế quan từ các FTA thế hệ mới. Doanh nghiệp Việt Nam đứng trước cơ hội lớn để thoát khỏi vai trò gia công thuần túy, chủ động trở thành đối tác trực tiếp trong chuỗi sản xuất. Đây cũng là hướng đi phù hợp với mục tiêu của Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, trong đó đặt trọng tâm gia tăng hàm lượng giá trị nội địa trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu. Do đó, không chỉ mở rộng cơ hội thị trường, việc tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia còn buộc doanh nghiệp Việt phải tiếp cận các mô hình quản trị hiện đại như Lean, Six Sigma hay Nhà máy thông minh nhằm nâng cấp năng lực sản xuất theo chuẩn quốc tế.
Bên cạnh đó, các FTA như CPTPP, EVFTA hay RCEP cũng đang mở ra dư địa lớn cho công nghiệp hỗ trợ trong nước thông qua các quy định chặt chẽ về quy tắc xuất xứ. Theo bà Vương Thị Oanh, để được hưởng ưu đãi thuế quan, các tập đoàn FDI buộc phải tăng tỷ lệ nội địa hóa tại Việt Nam, qua đó tạo thêm không gian thị trường ổn định và dài hạn cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước.
Chính phủ Australia hỗ trợ 10 triệu USD ứng phó biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Ngày 26/5, Chính phủ Australia đã công bố cam kết đầu tư lên đến 10 triệu USD nhằm cung cấp vốn cho các doanh nghiệp Việt Nam, tập trung vào lĩnh vực khí hậu và củng cố thị trường đầu tư khí hậu.
Khoản đầu tư từ Chính phủ Australia sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) giai đoạn đầu và tăng trưởng, thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng và thích ứng với biến đổi khí hậu của Việt Nam trong các lĩnh vực sản xuất, tiêu dùng bền vững và các giải pháp khí hậu dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI). Đây là cam kết đầu tiên của Australian Development Investments (ADI) theo chương trình đầu tư vào Việt Nam.
Bằng việc hỗ trợ Do Ventures, một công ty đầu tư mạo hiểm do phụ nữ lãnh đạo đã có uy tín, ADI đang giúp giải quyết các rào cản về cấu trúc, khi phụ nữ chỉ chiếm 11% số chuyên gia đầu tư vốn tư nhân và vốn mạo hiểm cấp cao tại các thị trường mới nổi.
Việt Nam chiếm 40% danh mục đầu tư hiện tại của ADI. Thông qua năm quỹ đầu tư, ADI thúc đẩy tăng trưởng cho 26 SME tại Việt Nam, hỗ trợ 5.781 việc làm, giúp 260.000 doanh nghiệp nhỏ tiếp cận nguồn tài chính tốt hơn và lắp đặt 19,2 MW công suất điện mặt trời mới.
Đại sứ Australia tại Việt Nam Gillian Bird chia sẻ, Australia là đối tác đáng tin cậy của Việt Nam, hỗ trợ quá trình chuyển đổi năng lượng và thích ứng với biến đổi khí hậu của Việt Nam. Cam kết quan trọng này sẽ củng cố thị trường đầu tư khí hậu của Việt Nam, thu hút thêm nguồn vốn tư nhân để thúc đẩy các giải pháp khí hậu tại Việt Nam.
Đối tác điều hành của Do Ventures Vy Lê đánh giá, cam kết này cho phép Chính phủ Australia củng cố danh mục đầu tư khí hậu và hỗ trợ nhiều nhà sáng lập Việt Nam hơn nữa trong việc tiên phong các giải pháp khí hậu sáng tạo và bền vững. ADI cũng sẽ hợp tác với Do Ventures để tăng cường năng lực đầu tư khí hậu, bao gồm các thực tiễn về Môi trường, Xã hội và Quản trị (ESG) và đo lường tác động, nhằm hỗ trợ quỹ và các công ty trong danh mục đầu tư phát triển và đạt hiệu quả cao hơn theo thời gian.
Phát triển công nghiệp hỗ trợ phải gắn liền với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định phê duyệt “Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035”. Quyết định nêu rõ, phát triển công nghiệp hỗ trợ phải gắn với nâng cao năng lực doanh nghiệp theo chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực, lấy yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và tỷ lệ nội địa hóa của doanh nghiệp dẫn dắt làm định hướng cho hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò trung tâm, là lực lượng nòng cốt trong sản xuất, đổi mới sáng tạo và mở rộng thị trường. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo phát triển, xây dựng thể chế minh bạch, hỗ trợ phát triển nguồn lực, khoa học công nghệ và thị trường.
Phát triển công nghiệp hỗ trợ phải gắn liền với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, tiến tới tự lực, tự chủ, tự cường về khoa học công nghệ và phát triển bền vững; đẩy mạnh ứng dụng tự động hóa, công nghệ cao, chuyển đổi số trong sản xuất; đồng thời đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường, năng lượng và phát triển bền vững; Lấy thị trường trong nước làm điểm tựa, thị trường quốc tế là động lực. Triển khai chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ gắn liền với việc phát triển thị trường nhằm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng, thiết bị đầu vào cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nội địa, song song với mở rộng thị trường xuất khẩu thông qua các hiệp định thương mại tự do.
Mục tiêu đến năm 2030, tập trung nguồn lực, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ có khả năng đáp ứng yêu cầu của chuỗi cung ứng; tăng cường kết nối doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ với doanh nghiệp dẫn dắt trong nước và quốc tế thuộc các ngành: điện tử thông minh, thiết bị năng lượng, đường sắt, cơ khí và tự động hoá, ô tô, công nghiệp công nghệ cao, dệt may, da giày; Phấn đấu đạt tỷ lệ nội địa hoá: Ngành điện tử đạt 25 - 30%; ngành cơ khí chế tạo đạt 40%; ngành ô tô 22 - 30%; ngành dệt may 60%; ngành da giày 60 - 65%; công nghiệp công nghệ cao đạt 15%.
Đến năm 2035, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam được phát triển với đa số các chuyên ngành có công nghệ tiên tiến, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, cạnh tranh bình đẳng trong hội nhập quốc tế; chủ động trong các khâu nghiên cứu, thiết kế, chế tạo.
Phấn đấu đạt tỷ lệ nội địa hóa: Ngành điện tử đạt 35 - 40%; ngành cơ khí chế tạo đạt 50%; ngành ô tô 32 - 40%; ngành dệt may 70%; ngành da giày 70 -75%; công nghiệp công nghệ cao đạt 20%.
Hà Nội đề xuất nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp tư nhân
TP Hà Nội dự kiến hỗ trợ 20% chi phí đầu tư hạ tầng đối với doanh nghiệp làm chủ đầu tư khu công nghiệp hoặc vườn ươm công nghệ; giảm 30% tiền thuê lại đất trong 5 năm đầu và hỗ trợ tối đa 20% chi phí thuê nhà, đất công để xây dựng trung tâm nghiên cứu, phát triển sản phẩm.
Đáng chú ý, Hà Nội dự kiến hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo, kết nối thị trường quốc tế cũng như chi phí tham gia hội chợ xúc tiến thương mại ở nước ngoài nhằm giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu.
Dự kiến, nội dung này sẽ được Hội đồng nhân dân TP Hà Nội xem xét tại kỳ họp giữa năm vào tháng 7/2026.
Từ những đề xuất ưu đãi mạnh mẽ của Hà Nội có thể thấy, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đang được mở rộng theo hướng toàn diện hơn, không chỉ giảm chi phí đầu tư mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận thị trường và nguồn lực phát triển dài hạn.
Phú Văn
-
AI mở ra cơ hội và thách thức mới cho trọng tài thương mại quốc tế
-
AFF 2026: "Hòa bình, Thịnh vượng, lấy Người dân làm trung tâm"
-
Tin tức kinh tế ngày 26/5: Việt Nam vào Top 10 quốc gia sản xuất thép lớn nhất thế giới
-
Bộ Công Thương: Xăng E10 là bước đi tất yếu để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia
-
Huy động tổng lực hệ thống điện ứng phó với nắng nóng cực đoan



