Báo động nạn học sinh muốn tự tử
Những đứa trẻ kiệt sức dưới áp lực học hành
Những ngày cuối tháng 6, khi kỳ thi tuyển sinh lớp 10 vừa khép lại, hành lang Viện Sức khỏe tâm thần (Bệnh viện Bạch Mai) vẫn có nhiều học sinh đến khám, tái khám hoặc kết thúc điều trị nội trú.
Các em ngồi lặng lẽ, mũ và khẩu trang che gần kín khuôn mặt, né tránh ánh nhìn của người xung quanh. Không ít em vừa trải qua một thử thách còn khắc nghiệt hơn cả kỳ thi: chiến đấu với chính những tổn thương tâm lý của mình.
Nguyễn Thị H., 15 tuổi, ở Hưng Yên, là một trong số đó. Cô bé nhỏ nhắn, nói chuyện nhẹ nhàng và đôi lúc còn mỉm cười. Khó ai hình dung được rằng cách đây không lâu, em từng chìm trong những suy nghĩ tiêu cực kéo dài.
“Có thời gian ngày nào cháu cũng nghĩ đến tự tử”, H. kể với tôi.
![]() |
| BS ThS Nguyễn Văn Hải tái khám cho cháu Nguyễn Thị H. sau kỳ thi đầy áp lực do cháu tự đặt ra mục tiêu cho mình |
Mọi chuyện bắt đầu từ năm lớp 8. Những cơn đau đầu, đau bụng, mệt mỏi, khó thở xuất hiện ngày càng nhiều. Đêm đến, em mất ngủ, luôn trong trạng thái căng thẳng và kiệt sức. Gia đình đưa em đến Viện Sức khỏe tâm thần khám và bàng hoàng khi biết con mắc trầm cảm.
ThS Nguyễn Văn Hải, bác sĩ trực tiếp điều trị cho H. gần hai năm qua, cho biết em đã trải qua ba đợt điều trị kết hợp thuốc, liệu pháp tâm lý và nhiều kỹ thuật hỗ trợ chuyên sâu.
Điều khiến tôi bất ngờ là áp lực của H. không đến từ sự ép buộc của gia đình. “Bố mẹ không ép. Cháu tự ép bản thân mình thôi”, cô bé nói khi tôi hỏi áp lực từ đâu.
Mục tiêu H. đặt ra chỉ là thi đỗ một trường công lập gần nhà. Nhưng với em, mục tiêu ấy dần trở thành gánh nặng vượt quá sức.
Theo các bác sĩ, H. không phải trường hợp hiếm gặp. Mỗi mùa thi, số học sinh nhập viện vì lo âu, trầm cảm, rối loạn cảm xúc lại tăng lên rõ rệt. Nhiều em mang theo bảng thành tích học tập đáng nể nhưng lại mất ngủ kéo dài, hoảng loạn trước kỳ thi hoặc xuất hiện những suy nghĩ tiêu cực về bản thân.
Khi kỳ vọng của người lớn trở thành gánh nặng
Nếu H. tự gây áp lực cho chính mình, thì trường hợp của nam sinh N.V.T. lại cho thấy một nguyên nhân khác: Kỳ vọng quá lớn từ gia đình.
Theo ThS.BS Đỗ Thùy Dung, Phòng Tâm thần Trẻ em và Vị thành niên, Viện Sức khỏe tâm thần, T. vốn là học sinh chăm chỉ, học lực tốt và đặc biệt có năng khiếu tiếng Anh.
Học THPT, em thi đỗ vào trường chuyên của tỉnh, được chọn vào đội tuyển học sinh giỏi tiếng Anh từ lớp 10 và sớm sở hữu chứng chỉ IELTS - thành tích mà nhiều học sinh mơ ước.
Nhưng cũng chính từ đó, áp lực bắt đầu đè nặng. Thấy con có năng khiếu, gia đình gần như đặt toàn bộ kỳ vọng vào môn tiếng Anh với mục tiêu được tuyển thẳng đại học. Trong suy nghĩ của cha mẹ T, thành tích học tập không chỉ là tương lai của con mà còn gắn với niềm tự hào của cả gia đình.
Thế là từ yêu thích tiếng Anh, môn học dần trở thành nỗi ám ảnh đối với T. Cậu kiệt sức vì áp lực thành tích, chán ghét chính môn học từng là thế mạnh của mình và cuối cùng xin rút khỏi đội tuyển. Quyết định đó lập tức vấp phải sự phản đối dữ dội từ gia đình. Những lời trách móc, la mắng liên tục đổ xuống khiến T. ngày càng chán nản và bi quan.
Chỉ trong gần hai tháng, T. mất hoàn toàn động lực học tập, thường xuyên ngủ gục trên lớp, không thể tập trung nghe giảng và dần tách khỏi mọi hoạt động tập thể.
Từ một học sinh năng động, em trở nên khép kín trong thế giới riêng. Về nhà, T. đóng cửa phòng, từ chối giao tiếp với mọi người. Những đêm mất ngủ kéo dài khiến em chơi điện tử tới 2-3 giờ sáng. Mỗi lần bố mẹ nhắc chuyện học, em cáu gắt hoặc im lặng.
Điều đáng lo ngại nhất là em không còn nhìn thấy ý nghĩa của cuộc sống. T. tâm sự với cô ruột rằng em cảm thấy tương lai mù mịt, không được bố mẹ thấu hiểu và từng nghĩ đến việc kết thúc cuộc sống để giải thoát.
Khi được cô ruột đưa đến khám, cậu đã ở trong tình trạng báo động.
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn, Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần. |
Theo BS Đỗ Thùy Dung, sau hai đợt điều trị kết hợp can thiệp tâm lý, tình trạng của T. cải thiện rõ rệt. Em dần lấy lại cảm xúc tích cực, chủ động giao tiếp, tham gia thể thao và kết nối trở lại với gia đình. Sau đó, T. trúng tuyển đúng ngôi trường đại học mà mình mong muốn.
Các bác sĩ cho rằng điều đáng suy ngẫm không phải là việc T. đỗ đại học, mà là gia đình đã kịp nhận ra những áp lực tưởng như “vì con” có thể đẩy con đến ranh giới nguy hiểm.
Trường hợp của T. không hề cá biệt. Mỗi mùa thi, các bác sĩ sức khoẻ tâm thần vẫn phải tiếp nhận không ít học sinh rơi vào trầm cảm, rối loạn lo âu, thậm chí xuất hiện ý nghĩ tự sát vì áp lực học tập.
Điểm chung đáng báo động là nhiều em không “gục ngã” vì bài vở đơn thuần, mà vì phải sống trong môi trường thiếu thấu hiểu - nơi giao tiếp bị thay thế bằng mệnh lệnh, yêu thương bị nhầm lẫn với kiểm soát, và kỳ vọng bị đẩy lên thành áp lực nghẹt thở.
Khi cha mẹ chỉ biết yêu cầu con phải giỏi hơn, tốt hơn, nhưng không lắng nghe con đang chịu đựng điều gì, chính gia đình - nơi lẽ ra phải là chỗ dựa an toàn nhất - lại có thể trở thành nguồn gây tổn thương sâu sắc nhất.
Bi kịch bắt đầu khi kỳ vọng vượt quá năng lực
Trao đổi với người viết bài này, PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn, Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần, cho biết mùa thi là thời điểm các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh dễ bộc lộ rõ nhất, bởi đây là giai đoạn áp lực học tập tăng cao.
Ông cho rằng, để hiểu vì sao một số trẻ bị khủng hoảng tâm lý do học tập, cần nhìn vào năng lực chịu đựng của từng cá nhân.
“Nói đơn giản, cũng giống như sức lực về thể chất. Một người chỉ mang được 50kg, nếu bắt mang 60kg đã là quá sức, còn 100kg thì chắc chắn sẽ quá tải. Sức khỏe tâm thần cũng vậy”, ông phân tích.
Theo vị chuyên gia đầu ngành sức khoẻ tâm thần, mỗi đứa trẻ có năng lực nhận thức, khả năng tiếp thu và sức chịu áp lực khác nhau. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, nhiều phụ huynh và thậm chí cả hệ thống giáo dục vẫn đặt ra những kỳ vọng khá đồng nhất cho mọi học sinh. Điều này dẫn tới tình trạng có những trẻ phải học với cường độ vượt xa khả năng thực tế.
“Có những em năng lực ở mức trung bình nhưng lại phải học theo chương trình hoặc mục tiêu quá cao. Khi áp lực kéo dài, đặc biệt vào mùa thi, các rối loạn tâm lý sẽ dễ bùng phát hơn”, ông nói.
PGS Tuấn nhấn mạnh rằng áp lực học tập không phải lúc nào cũng xấu. Áp lực phù hợp có thể trở thành động lực. Vấn đề chỉ xảy ra khi áp lực vượt ngưỡng chịu đựng.
Ông Tuấn nhấn mạnh: Việc đánh giá đúng năng lực của trẻ từ sớm có ý nghĩa rất lớn. Nhưng khó khăn lớn nhất là nhiều trẻ không tự nhận biết giới hạn của bản thân, trong khi cha mẹ cũng khó đánh giá chính xác năng lực thực sự của con. Vì vậy, không ít gia đình vô tình đặt kỳ vọng vượt quá sức chịu đựng của trẻ. Đến khi chương trình học phức tạp hơn ở cuối cấp thì khó khăn mới bộc lộ rõ.
Theo ông Tuấn, điều quan trọng nhất là phát hiện sớm những dấu hiệu quá tải tâm lý và điều chỉnh kỳ vọng học tập cho phù hợp. Thay vì chỉ tập trung vào thành tích, phụ huynh cần quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe tinh thần, giấc ngủ, khả năng thích nghi và trạng thái cảm xúc của con.
“Mục tiêu không phải là buộc trẻ đạt thành tích cao nhất bằng mọi giá, mà là giúp các em phát triển bền vững, phù hợp với năng lực của mình”, PGS Tuấn nhấn mạnh.
Vị chuyên gia cũng cảnh báo trầm cảm học đường đang trẻ hóa đáng báo động. Nếu trước đây bệnh thường gặp ở lứa tuổi 15-16 thì hiện nay đã xuất hiện ở nhóm 10-11 tuổi.
Những dấu hiệu không nên xem nhẹ
BS Lê Công Thiện, Phó Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần, chia sẻ: Các cháu ở độ tuổi học đường là nhóm đặc biệt nhạy cảm vì đang trong giai đoạn phát triển mạnh cả về thể chất lẫn tâm sinh lý.
Áp lực học tập, kỳ vọng thành tích, sự so sánh, chỉ trích hay thất bại trong học tập đều có thể trở thành những tác nhân gây căng thẳng kéo dài. Điều nguy hiểm là những áp lực tưởng như rất nhỏ nhưng lặp đi lặp lại hàng ngày lại có thể âm thầm đẩy trẻ vào trầm cảm.
BS Thiện đưa ra con số thống kê đáng chú ý: Tỷ lệ trầm cảm ở trẻ em dưới 13 tuổi dao động từ 0,3-7,8%; ở tuổi 13 là 1-2% và tăng lên 3-7% ở tuổi 15. Bệnh trầm cảm tăng theo lứa tuổi và càng lớn thì tỷ lệ trẻ nữ mắc trầm cảm nhiều hơn nam.
Theo các chuyên gia, không phải trẻ trầm cảm nào cũng học kém. Nhiều em vẫn học giỏi, như trường hợp của T., vẫn ngoan ngoãn và vẫn cố gắng làm hài lòng mọi người trong khi bên trong đã kiệt quệ.
Điểm nguy hiểm là rối loạn tâm thần ở trẻ thường biểu hiện rất khác người lớn. Nhiều trẻ không biểu hiện buồn bã rõ rệt mà thay vào đó là cáu gắt, kích động, phản ứng thái quá hoặc bùng nổ cảm xúc.
Nhiều phụ huynh chỉ nghĩ con mình “lười học”, “bướng bỉnh”, “khó bảo”, mà không hề biết đó có thể là những tín hiệu đầu tiên của một rối loạn tâm thần.
Để phát hiện sớm và điều trị kịp thời, BS Lê Công Thiện chỉ ra các dấu hiệu cảnh báo trẻ bị rối loạn tâm thần: Mất ngủ, mệt mỏi kéo dài, đau đầu, đau bụng, giảm hứng thú với những hoạt động từng yêu thích, thu mình khỏi bạn bè, lo âu, tự ti hoặc thường xuyên ám ảnh về thất bại.
Khi bệnh diễn tiến nặng hơn, các cháu có thể xuất hiện cảm giác vô dụng, bi quan cực độ và ý nghĩ tự sát - hậu quả nghiêm trọng nhất của trầm cảm học đường.
Theo Phó Viện trưởng Viện Sức khoẻ tâm thần, tỷ lệ toan tự sát ở trẻ vị thành niên khoảng 3-4%. Vì thế, phụ huynh cần chú ý những dấu hiệu nhận biết ý định tự sát của trẻ, như thường xuyên nhắc đến cái chết, xa lánh gia đình, cho đi đồ vật quý giá, tìm kiếm cách tự sát hoặc từng tự làm hại bản thân đều cần được can thiệp ngay lập tức.
“Nhưng, rối loạn tâm thần học đường hoàn toàn có thể phòng ngừa nếu gia đình và nhà trường thay đổi cách tiếp cận” - các chuyên gia nhấn mạnh.
Điều đầu tiên là giảm áp lực thành tích. Không phải đứa trẻ nào cũng cần trở thành học sinh xuất sắc. Trẻ cần được học tập phù hợp với năng lực và phát triển lành mạnh.
Cha mẹ cần ngừng so sánh con với người khác, quan tâm nhiều hơn tới cảm xúc thay vì chỉ nhìn vào điểm số. Nhà trường cần xây dựng môi trường học tập an toàn và phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường.
Khi thấy trẻ có dấu hiệu bất thường kéo dài trên 2 tuần, nên đưa trẻ đi khám chuyên khoa tâm thần hoặc tâm lý càng sớm càng tốt.
PGS Nguyễn Văn Tuấn cũng nhấn mạnh điều quan trọng không phải là bắt mọi đứa trẻ đạt cùng một đích đến, mà là giúp các em học tập phù hợp với năng lực của mình.
Ông gửi thông điệp rất đơn giản tới phụ huynh trong mùa thi: Hãy nhìn vào năng lực thực sự của con, thay vì chỉ nhìn vào điểm số. Bởi không phải đứa trẻ nào học kém cũng lười biếng, và không phải mọi áp lực đều có thể vượt qua chỉ bằng sự cố gắng. Đôi khi, điều con cần nhất không phải là thêm một lời thúc ép, mà là một người lớn đủ tinh tế để nhận ra con đang kiệt sức.
Một bảng điểm xấu có thể khiến cha mẹ thất vọng trong vài ngày. Nhưng một đứa trẻ gục ngã vì trầm cảm sẽ để lại nỗi day dứt suốt đời cho cha mẹ.
Thanh Hằng


