"Vàng trắng" tăng, đại gia hốt bạc trăm, nghìn tỷ đồng

08:35 | 25/11/2021

|
Được mệnh danh là "vàng trắng", cao su leo thang từ đầu năm đến nay, nhu cầu tăng mạnh là hai trong số những nguyên nhân chính để doanh nghiệp ngành này hốt bạc.

Lãi trăm tỷ, nghìn tỷ đồng

Báo cáo tài chính quý III mới công bố của không ít doanh nghiệp cho thấy con số doanh thu, lợi nhuận "khủng"

Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (mã chứng khoán: GVR) có lợi nhuận sau thuế quý III là 1.533 tỷ đồng, tăng 29% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng là 3.816 tỷ đồng, tăng 74% so với 2.033 tỷ đồng năm 2020.

Doanh thu ghi nhận chủ yếu đến từ mảng sản xuất và kinh doanh mủ cao su cùng mảng chế biến gỗ. Đặc biệt mảng cao su diễn biến khá tích cực, chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ tăng lên, trong khi nguồn cung từ các quốc gia cung ứng liên tục bị gián đoạn do tác động của đại dịch. Khan hiếm cung cùng vượt trội cầu kéo giá cao su tăng lên cao trong quý.

Doanh thu thuần bán hàng quý III là hơn 6.151 tỷ đồng, giảm nhẹ 0,21% cùng kỳ 2020 do doanh thu sản xuất và kinh doanh mủ cao su tăng 3% đạt hơn 4.345 tỷ đồng nhưng doanh thu từ chế biến gỗ lại giảm 34% chỉ còn 631,7 tỷ đồng. Trong quý III, lợi nhuận tăng mạnh dù doanh thu giảm nhẹ so với cùng kỳ 2020 là nhờ giá vốn hàng bán quý III giảm đến 17,34%, thêm vào đó là chi phí tài chính giảm 48,3% cùng kỳ, chi phí bán hàng giảm 13,9% cùng kỳ.

Vàng trắng tăng, đại gia hốt bạc trăm, nghìn tỷ đồng - 1
Nhìn chung, trong quý III các doanh nghiệp đều hưởng lợi trực tiếp bởi giá cao su tăng cao (Ảnh: Vinanet).

CTCP Cao su Phước Hòa (mã chứng khoán: PHR) cũng có lợi nhuận sau thuế tăng nhẹ. Cụ thể, tổng lợi nhuận khác (thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, tiền bồi thường,…) trong quý chỉ đạt hơn 3,4 tỷ đồng, giảm mạnh so với mức 118,7 tỷ đồng cùng kỳ 2020 do không còn ghi nhận chi phí bán đất. Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế quý III của đơn vị vẫn tăng từ 169,9 tỷ đồng quý III/2020 lên 170,6 tỷ đồng quý III năm nay. Lợi nhuận duy trì tích cực là nhờ bù đắp từ doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ, khoản mục này trong quý III đạt 521,7 tỷ đồng tăng 33,5% cùng kỳ 2020 với 390,8 tỷ đồng.

Doanh thu của doanh nghiệp cũng đến phần lớn từ mảng kinh doanh cao su và mảng chế biến gỗ. Nhờ doanh thu cao su tăng thêm đã bù đắp một phần rủi ro chậm trễ bàn giao đất của mảng bất động sản khu công nghiệp.

CTCP Cao su Đồng Phú (mã chứng khoán: DPR) công bố báo cáo quý III ghi nhận mức tăng trưởng cao so với 6 tháng đầu năm. Cụ thể, trong 9 tháng, doanh thu thuần của công ty đạt 729,5 tỷ đồng (trong quý III là 303 tỷ đồng), lợi nhuận sau thuế đạt 160,8 tỷ đồng (trong quý III là 78,5 tỷ đồng), lần lượt tăng 15,4% và tăng 23,1%% so với cùng kỳ 2020.

Đáng chú ý nhất là khoản thu nhập khác trong quý là 15,1 tỷ đồng, tăng gần 3 lần cùng kỳ năm 2020 với 5,2 tỷ lần. Nguyên nhân là khan hiếm quỹ đất lớn cho khu công nghiệp là xu hướng trong thập kỷ qua, chính quyền địa phương quyết định chuyển đất trồng cao su thành đất khu công nghiệp, khiến thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản tăng theo. CTCP Cao su Đồng Phú là một trong những công ty cao su theo xu hướng này.

Theo báo cáo tài chính quý III/2021 của CTCP Đầu tư Cao su Đăk Lăk (mã chứng khoán: DRI), doanh nghiệp có kết quả kinh doanh khởi sắc trong kỳ nhờ vào tăng giá cùng với cầu cao su, giúp cho doanh thu và lợi nhuận được cải thiện.

Tổng doanh thu trong quý là 147,3 tỷ đồng, ghi nhận mức tăng nhẹ 2% so với cùng kỳ 2020 (144,7 tỷ đồng). Bên cạnh tăng doanh thu, giá vốn hàng bán giảm từ 99,8 tỷ đồng trong quý III/2020 xuống còn 88,3 tỷ đồng trong quý III/2021 đã khiến lợi nhuận sau thuế tăng 30%. Cụ thể lợi nhuận sau thuế của đơn vị trong quý III/2021 và cùng kỳ 2020 lần lượt là 14,3 tỷ đồng và 11,4 tỷ đồng.

Doanh thu từ hoạt động tài chính (phần lớn là thu từ chênh lệch tỷ giá phát sinh) của công ty trong quý là 5 tỷ đồng, cùng kỳ 2020 là 1,1 tỷ đồng, mức tăng là gần 5 lần. Thu nhập khác chỉ từ dịch vụ chăm sóc cây vườn nhìn chung chiếm tỷ trọng không đáng kể trong doanh thu của doanh nghiệp.

"Vàng trắng" tăng giá do đâu?

Nhìn chung, trong quý III các doanh nghiệp đều hưởng lợi trực tiếp bởi giá cao su tăng cao, trong khi cầu cao su dự báo sẽ không có dấu hiệu hạ nhiệt trong ngắn hạn. Nhiều chuyên gia dự báo mức giá này sẽ vẫn được duy trì đến năm 2022 do thiếu thốn quỹ đất dành cho khu công nghiệp, doanh nghiệp bắt buộc bàn giao phần quỹ đất còn lại của mình cho chủ thầu, khiến diện tích trồng cao su giảm mạnh, nguồn cung cao su cũng theo đó suy giảm.

Xuất khẩu cao su của Việt Nam quý vừa rồi tăng mạnh về giá so với cùng kỳ 2020, dù lượng xuất đi giảm nhẹ. Theo thống kê của Bộ Công Thương, trong tháng 9, xuất khẩu cao su của Việt Nam đạt khoảng 195.000 tấn, trị giá 321 triệu USD, giảm 5,1% về lượng nhưng tăng đến 21,2% về trị giá so với tháng 9/2020.

Giá cao su leo thang từ đầu năm đến nay, cùng với cầu cao su trên toàn thế giới tăng mạnh là lý do chính để các doanh nghiệp cao su đồng loạt công bố kết quả kinh doanh tích cực, hưởng lợi trực tiếp từ việc xuất khẩu cao su với giá cao. Thêm nữa, đất trồng cao su sắp tới đây sẽ được trao trả cho các dự án khu công nghiệp, làm cho nguồn cung cao su không mấy dồi dào càng trở nên khan hiếm. Theo dự báo của nhiều bên, giá cao su trong ngắn hạn cũng sẽ chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.

Trong những năm trở lại đây, báo cáo của nhiều công ty nghiên cứu thị trường đã cho thấy quỹ đất còn lại cho khu công nghiệp ở nước ta càng trở nên hạn hẹp, quỹ đất có chất lượng hạ tầng giao thông tốt lại càng ít.

CBRE Việt Nam liên tục ghi nhận nhu cầu tìm kiếm quỹ đất để phát triển cơ sở hạ tầng kho vận tăng trưởng đáng kể. Đặc biệt do tác động của đại dịch Covid-19, suốt hai năm qua, quỹ đất hầu như không được mở rộng hay mở rộng rất ít. Vì thế, khi kết thúc giai đoạn giãn cách và đình trệ kinh tế, xu hướng chung của Chính phủ là đưa ra chính sách thu hồi đất dự án từ tay các doanh nghiệp để tập trung nguồn vốn cho khai thác và phát triển, vực dậy nền kinh tế.

Sắp tới, nhiều doanh nghiệp cao su với quỹ đất rộng lớn sẽ thực hiện bàn giao đất lại cho Nhà nước. Tuy doanh nghiệp nhận được nhiều doanh thu từ đền bù do Nhà nước chi trả nhưng cũng khiến diện tích đất trồng cao su giảm sút, nguồn cung cao su đứt gãy.

Tuy trong báo cáo quý III năm nay của CTCP Cao su Phước Hòa chưa xuất hiện khoản lợi nhuận khác từ việc chuyển nhượng đất của VSIP III. Nhưng theo đúng kế hoạch đặt ra, cùng với sự dịch chuyển tích cực của dòng vốn FDI đẩy mạnh vốn đầu tư do thực thi các chính sách phục hồi nền kinh tế, Cao su Phước Hòa dự tính sẽ nhận được số tiền bồi thường còn lại 748 tỷ đồng từ VSIP III vào quý IV. Khoản bồi thường này được ghi nhận vào doanh thu phát sinh đột biến trong năm. Cộng thêm sự hỗ trợ từ giá cao su tự nhiên tăng mạnh do nhu cầu toàn cầu được kỳ vọng sẽ tăng mạnh và thiếu hụt nguồn cung, dự báo doanh thu mảng cao su tự nhiên của doanh nghiệp sẽ đạt tăng trưởng vượt bậc.

Theo thống kê của Công ty TNHH chứng khoán Mirae Asset, CTCP Cao su Đồng Phú hiện quản lý 9.900 ha cao su trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Theo kế hoạch 2020-2030, diện tích vườn cây cao su của Đồng Phú sẽ thu hẹp xuống còn 6.000 ha. Gần 4.000 ha đất cao su của công ty sẽ được chuyển đổi thành KCN và khu nông nghiệp công nghệ cao, trong đó 2.000 ha sẽ được chuyển giao cho UBND tỉnh Bình Phước. Công việc bàn giao cũng dự báo sẽ bị trì hoãn cho đến nửa đầu năm 2022 do chính quyền địa phương phải tập trung vào kiểm soát dịch Covid-19.

Theo kế hoạch này, tăng trưởng lợi nhuận trong ngắn hạn và dài hạn của Cao su Đồng Phú cũng sẽ đến từ thu nhập bồi thường đất và thu nhập từ khu công nghiệp.

Cuối quý I vừa rồi, 24.011 m2 đất, thuộc Chi nhánh Công ty Cổ phần cao su Đắk Lắk được thông báo sẽ được thu hồi cho Trung tâm Phát triển quỹ đất Đắk Lắk quản lý theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất. Việc bàn giao diện tích trên dự báo cũng sẽ được thực hiện vào cuối năm 2020 đến đầu năm 2022.

Theo Dân trí

Giá dầu hôm nay 25/11 giảm trước sự hoài nghi của giới đầu tưGiá dầu hôm nay 25/11 giảm trước sự hoài nghi của giới đầu tư
Chứng khoán bùng nổ vẫn… thua lỗ hơn 20%Chứng khoán bùng nổ vẫn… thua lỗ hơn 20%
Đẩy mạnh triển khai thi hành văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tưĐẩy mạnh triển khai thi hành văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư
Xem xét Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án xây dựng Cảng hàng không Quảng TrịXem xét Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án xây dựng Cảng hàng không Quảng Trị
Nghệ thuật kiếm lời của giới đầu tư chứng khoán: Lướt 10% ngon ơNghệ thuật kiếm lời của giới đầu tư chứng khoán: Lướt 10% ngon ơ
Samsung sẽ tiêu Samsung sẽ tiêu "núi" tiền mặt 100 tỷ USD vào đâu?

  • sao-thai-duong
  • bidv-5-goi-dich-vu-free
  • vietinbank
  • vietinbank
  • flc

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL / DOJI HN lẻ 59,950 60,800
AVPL / DOJI HN buôn 59,950 60,800
AVPL / DOJI HCM lẻ 60,000 60,800
AVPL / DOJI HCM buôn 60,000 60,800
AVPL / DOJI ĐN lẻ 60,000 60,850
AVPL / DOJI ĐN buôn 60,000 60,850
Nguyên liêu 9999 - HN 51,550 52,000
Nguyên liêu 999 - HN 51,450 51,950
AVPL / DOJI CT lẻ 60,000 60,800
AVPL / DOJI CT buôn 60,000 60,800
Cập nhật: 28/11/2021 00:31
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - Bóng đổi 9999 0 0
TPHCM - PNJ 51.550 52.350
TPHCM - SJC 60.000 60.800
Hà Nội - PNJ 51.550 52.350
Hà Nội - SJC 60.020 60.900
Đà Nẵng - PNJ 51.550 52.350
Đà Nẵng - SJC 60.000 60.800
Cần Thơ - PNJ 51.550 52.350
Cần Thơ - SJC 60.050 60.900
Giá vàng nữ trang - Nhẫn PNJ (24K) 51.550 52.250
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 51.150 51.950
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 37.710 39.110
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 29.140 30.540
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.360 21.760
Cập nhật: 28/11/2021 00:31
AJC Mua vào Bán ra
Vàng trang sức 9999 5,095 5,245
Vàng trang sức 999 5,085 5,235
Vàng NT, TT, 3A Hà Nội 5,175 5,255
Vàng NT, TT Thái Bình 5,180 5,280
Vàng NT, TT Nghệ An 5,180 5,280
Vàng NL 9999 5,145 5,240
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,020 6,090
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,010 6,095
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,020 6,090
Cập nhật: 28/11/2021 00:31
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 60,000 60,850
SJC 5c 60,000 60,870
SJC 2c, 1C, 5 phân 60,000 60,880
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 51,750 52,450
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 51,750 52,550
Nữ Trang 99.99% 51,450 52,150
Nữ Trang 99% 50,534 51,634
Nữ Trang 68% 33,616 35,616
Nữ Trang 41.7% 19,899 21,899
Cập nhật: 28/11/2021 00:31

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,853.60 16,013.74 16,516.03
CAD 17,461.89 17,638.27 18,191.51
CHF 23,651.17 23,890.07 24,639.41
CNY 3,478.89 3,514.03 3,624.80
DKK - 3,357.25 3,483.39
EUR 24,776.09 25,026.35 26,141.92
GBP 29,421.88 29,719.07 30,651.25
HKD 2,835.47 2,864.11 2,953.95
INR - 303.72 315.65
JPY 191.44 193.37 202.48
KRW 16.47 18.30 20.05
KWD - 74,776.07 77,711.64
MYR - 5,307.61 5,419.62
NOK - 2,475.94 2,579.27
RUB - 304.34 339.13
SAR - 6,029.69 6,266.40
SEK - 2,439.52 2,541.33
SGD 16,151.64 16,314.79 16,826.52
THB 598.86 665.40 690.40
USD 22,545.00 22,575.00 22,775.00
Cập nhật: 28/11/2021 00:31
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD - 15,837 16,537
CAD - 17,429 18,129
CHF - 24,209 24,859
CNY - 3,476 3,616
DKK - 3,359 3,529
EUR - 24,794 26,084
GBP - 29,641 30,811
HKD - 2,787 2,982
JPY - 193.71 204.51
KRW - 16.98 20.78
LAK - 1.39 2.34
NOK - 2,412 2,532
NZD - 15,202 15,612
SEK - 2,439 2,514
SGD - 15,972 16,772
THB - 659.51 687.51
USD - 22,490 22,770
Cập nhật: 28/11/2021 00:31
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 15,634 15,899 16,517
CAD 17,204 17,476 18,088
CHF 23,930 24,279 24,901
CNY 3,390 3,720
EUR 25,055 25,359 26,379
GBP 29,474 29,846 30,767
HKD 2,777 2,979
JPY 193.23 196.54 205.68
KRW 23
MYR 5,330 5,630
SGD 16,014 16,280 16,899
THB 588 651 702
USD (1,2) 22,451
USD (5,10,20) 22,500
USD (50,100) 22,545 22,580 22,775
Cập nhật: 28/11/2021 00:31
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 22,575 22,575 22,775
USD(1-2-5) 22,451 - -
USD(10-20) 22,530 - -
GBP 29,508 29,686 30,751
HKD 2,852 2,872 2,944
CHF 23,833 23,977 24,725
JPY 193.38 194.55 202.98
THB 640.14 646.61 703.46
AUD 15,847 15,943 16,418
CAD 17,439 17,544 18,106
SGD 16,208 16,305 16,780
SEK - 2,446 2,518
LAK - 1.77 2.17
DKK - 3,375 3,474
NOK - 2,470 2,544
CNY - 3,497 3,601
RUB - 272 349
NZD 15,200 15,291 15,611
KRW 17.04 - 20.74
EUR 25,023 25,091 26,100
TWD 738.1 - 835.33
MYR 5,007.32 - 5,478.5
Cập nhật: 28/11/2021 00:31
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 22,570.00 22,585.00 22,775.00
EUR 25,068.00 25,099.00 25,781.00
GBP 29,718.00 29,897.00 30,477.00
HKD 2,853.00 2,864.00 2,948.00
CHF 23,862.00 23,958.00 24,571.00
JPY 193.97 195.25 199.39
AUD 15,918.00 15,982.00 16,526.00
SGD 16,313.00 16,379.00 16,735.00
THB 651.00 654.00 697.00
CAD 17,612.00 17,683.00 18,081.00
NZD 0.00 15,272.00 15,743.00
KRW 0.00 18.18 19.93
Cập nhật: 28/11/2021 00:31
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 22.573 22.593 22.785
AUD 15.982 16.082 16.588
CAD 17.587 17.687 18.090
CHF 24.256 24.356 24.769
EUR 25.332 25.432 25.887
GBP 29.982 30.082 30.494
JPY 196,26 197,76 202,63
SGD 16.334 16.434 16.738
Cập nhật: 28/11/2021 00:31
  • hanh-trinh-thap-lua-pvn
  • hanh-trinh-thap-lua-pvgas