Nghịch lý lợi nhuận doanh nghiệp tăng - cổ phiếu doanh nghiệp giảm và kỹ năng đầu tư

11:00 | 28/10/2021

|
Đến thời điểm hiện tại, đã có khoảng 30% doanh nghiệp niêm yết công bố kết quả kinh doanh quý III/2021. Bên cạnh những doanh nghiệp báo lỗ, vẫn có nhiều doanh nghiệp báo lãi hàng trăm - thậm chí hàng nghìn tỷ đồng.

Trả lời trong Talkshow Phố Tài chính trên VTV8 về bức tranh lợi nhuận quý III của các doanh nghiệp, ông Trần Thăng Long, Giám đốc Phân tích CTCK BIDV (BSC) cho hay, hiện có khoảng 30% các doanh nghiệp trên sàn đã công bố kết quả kinh doanh quý III với tổng lợi nhuận quý giảm khoảng 9,2% so với quý trước nhưng lại tăng khoảng 37% so với cùng kỳ năm ngoái. Trên phương diện của ngành, có những ngành tăng trưởng vượt trội so với thị trường như chứng khoán, bảo hiểm, thép, hóa chất và công nghệ thông tin. Nhiều ngành chưa công bố kết quả kinh doanh quý III nhưng dự báo chịu nhiều ảnh hưởng là ngành du lịch, hàng không…

Kết quả này cũng khá sát so với dự báo của chúng tôi đưa ra trong thời gian gần đây.

5207-co-phieu-doanh-nghiep

Theo ông Lê Anh Minh, CFA, Phó Giám đốc Đầu tư CTCK Sài Gòn – Hà Nội (SHS): Bức tranh lợi nhuận tổng thể quý III của doanh nghiệp Việt Nam cơ bản là không tích cực từ đợt dịch COVID-19 lần thứ 4. Tuy nhiên không vì thế mà không có những ngành được gọi là điểm sáng trong đó có thể kể đến ngành chứng khoán, ngành vật liệu xây dựng, ngành hóa chất, phân bón và ngành công nghệ.

Tuy nhiên, phần lớn các ngành còn lại như du lịch, hàng không, bán lẻ bị ảnh hưởng rất nặng nề.

Ngành ngân hàng cũng là ngành bị ảnh hưởng, mức tăng thấp hơn kỳ vọng. Tuy nhiên chúng tôi đánh giá, nhiều ngân hàng đã chống chịu tương đối tốt khi vẫn tăng trưởng dương. Theo đó, các doanh nghiệp như vậy sẽ có khả năng phục hồi tốt hơn, có sự đánh giá đúng hơn từ phía thị trường trong quý IV cũng như là nửa đầu 2022.

Liên quan đến câu chuyện, trên thị trường chứng khoán hiện đang có một thực tế: Những doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt, thậm chí doanh thu nghìn tỷ nhưng giá cổ phiếu vẫn không tăng trưởng mạnh bằng những nhóm cổ phiếu của những doanh nghiệp có kết quả kinh doanh kém hơn hoặc thua lỗ, theo ông Trần Thăng Long, gần đây, có một số nhóm ngành có kết quả kinh doanh tốt hơn mặt bằng chung như ngân hàng, thép, hoá chất, vật liệu xây dựng, công nghệ thông tin nhưng giá cổ phiếu của những doanh nghiệp đó lại không tăng trưởng bằng những cổ phiếu nhỏ, thậm chí có kết quả kinh doanh kém hoặc thua lỗ.

Theo tôi có 3 lý do chính:

Thứ nhất, cổ phiếu của những doanh nghiệp lớn, những ngành đang có lợi nhuận tăng trưởng tốt hơn so với thị trường, thì từ năm 2020 cho đến nay, cổ phiếu đã có mức tăng giá vượt trội hơn so với thị trường chung;

Thứ hai, nhà đầu tư đang có sự lan tỏa về dòng tiền và tìm kiếm cơ hội mới, những ngành chưa có sự phục hồi nhưng được kỳ vọng là sau khi dịch bệnh được kiểm soát thì sẽ phục hồi mạnh hơn vào năm 2022;

Cuối cùng, thị trường cũng sẽ quay lại phản ánh những yếu tố cơ bản của các doanh nghiệp, phản ánh nền kinh tế. Do đó, nhà đầu tư nên cần thận trọng với những cổ phiếu quy mô vừa và nhỏ.

Theo quan điểm của ông Lê Anh Minh, các cổ phiếu vốn hóa lớn như nhóm cổ phiếu ngành ngân hàng đã có một đà tăng rất dài từ đợt đáy năm 2020, họ đã ghi nhận mức tăng trưởng tốt khiến cho một lượng tiền cực kỳ lớn đã đổ vào những cổ phiếu đó trong thời gian dài, đưa mức định giá lên tương đối hợp lý, thậm chí là hơi đắt, cho nên khi dịch lần thứ 4 xuất hiện, các doanh nghiệp đó phải điều chỉnh lại kỳ vọng tăng trưởng và giá cổ phiếu cũng từ đó mà điều chỉnh theo.

Ngoài ra những ngành vốn hóa lớn, quá trình tạo đáy và tích lũy lại sẽ mất thời gian. Còn đối với các cổ phiếu vừa và nhỏ thời gian vừa qua tăng, tuy nhiên các cổ phiếu vừa và nhỏ không phải cổ phiếu nào tăng trưởng cũng dựa trên sự cải thiện cơ bản của doanh nghiệp, có rất nhiều cổ phiếu mang yếu tố đầu cơ. Cổ phiếu tăng nhưng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp lại chưa tương xứng với đà tăng của cổ phiếu đó.

Ở thời điểm hiện tại, nhà đầu tư nên chọn những ngành thực sự được hỗ trợ từ những chính sách để hồi phục kinh tế sau dịch COVID19 cũng như những ngành đã tăng trưởng tốt trước đó - đây chính là một chiến lược rất tốt trong thời điểm hiện tại.

Theo Kinh tế chứng khoán

Rà soát, xử lý ngay khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn trong giải ngân vốn đầu tư côngRà soát, xử lý ngay khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn trong giải ngân vốn đầu tư công
Cú Cú "đánh úp" đột ngột, tỷ phú Trần Đình Long hụt mất bộn tiền
Tiềm năng điện gió ở Việt Nam là rất lớnTiềm năng điện gió ở Việt Nam là rất lớn

  • bidv-65-nam
  • sao-thai-duong
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN lẻ 68,200 ▲300K 69,100 ▲300K
AVPL/SJC HN buôn 68,200 ▲300K 69,100 ▲300K
AVPL/SJC HCM lẻ 68,200 ▲300K 69,100 ▲300K
AVPL/SJC HCM buôn 68,200 ▲300K 69,100 ▲300K
AVPL/SJC ĐN lẻ 68,200 ▲300K 69,100 ▲300K
AVPL/SJC ĐN buôn 68,200 ▲300K 69,100 ▲300K
Nguyên liêu 9999 - HN 53,950 ▼150K 54,200 ▼150K
Nguyên liêu 999 - HN 53,900 ▼150K 54,150 ▼150K
AVPL/SJC CT lẻ 68,200 ▲300K 69,100 ▲300K
AVPL/SJC CT buôn 68,200 ▲300K 69,100 ▲300K
Cập nhật: 26/05/2022 15:45
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - Bóng đổi 9999 0 0
TPHCM - PNJ 54.100 ▼100K 55.200 ▼100K
TPHCM - SJC 68.200 ▲200K 69.200 ▲200K
Hà Nội - PNJ 54.100 ▼100K 55.200 ▼100K
Hà Nội - SJC 68.200 ▲200K 69.200 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 54.100 ▼100K 55.200 ▼100K
Đà Nẵng - SJC 68.200 ▲200K 69.200 ▲200K
Cần Thơ - PNJ 54.100 ▼100K 55.200 ▼100K
Cần Thơ - SJC 68.400 ▲200K 69.300 ▲200K
Giá vàng nữ trang - Nhẫn PNJ (24K) 54.100 ▼100K 55.100 ▼100K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 53.500 ▼100K 54.300 ▼100K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 39.480 ▼70K 40.880 ▼70K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 30.520 ▼50K 31.920 ▼50K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 21.340 ▼40K 22.740 ▼40K
Cập nhật: 26/05/2022 15:45
AJC Mua vào Bán ra
Đồng vàng 99.99 5,425 ▼5K 5,500
Vàng trang sức 99.99 5,340 ▼5K 5,485
Vàng trang sức 99.9 5,330 ▼5K 5,475
Vàng NL 99.99 5,395 ▼5K 5,485
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,810 ▲30K 6,910 ▲10K
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,795 ▲15K 6,895 ▼10K
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,825 ▲20K 6,910 ▲20K
Vàng NT, TT 3A Thái Bình 5,420 ▼10K 5,520 ▼10K
Vàng NT, TT 3A Nghệ An 5,430 ▼5K 5,530 ▼5K
Vàng NT, TT 3A Hà Nội 5,425 ▼5K 5,500
Cập nhật: 26/05/2022 15:45
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 68,300 ▲200K 69,300 ▲200K
SJC 5c 68,300 ▲200K 69,320 ▲200K
SJC 2c, 1C, 5 phân 68,300 ▲200K 69,330 ▲200K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 54,150 ▼50K 55,150 ▼50K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 54,150 ▼50K 55,250 ▼50K
Nữ Trang 99.99% 53,950 ▼50K 54,750 ▼50K
Nữ Trang 99% 52,908 ▼49K 54,208 ▼49K
Nữ Trang 68% 35,384 ▼34K 37,384 ▼34K
Nữ Trang 41.7% 20,983 ▼21K 22,983 ▼21K
Cập nhật: 26/05/2022 15:45

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,055.60 16,217.78 16,740.56
CAD 17,656.43 17,834.78 18,409.69
CHF 23,526.60 23,764.24 24,530.29
CNY 3,395.45 3,429.75 3,540.84
DKK - 3,274.68 3,400.58
EUR 24,181.73 24,425.99 25,536.30
GBP 28,485.53 28,773.26 29,700.77
HKD 2,880.36 2,909.45 3,003.24
INR - 298.53 310.51
JPY 177.26 179.05 187.66
KRW 15.88 17.64 19.35
KWD - 75,649.88 78,685.99
MYR - 5,224.33 5,339.07
NOK - 2,380.65 2,482.10
RUB - 344.85 467.37
SAR - 6,167.52 6,415.04
SEK - 2,309.67 2,408.09
SGD 16,462.11 16,628.40 17,164.41
THB 598.69 665.21 690.79
USD 23,030.00 23,060.00 23,340.00
Cập nhật: 26/05/2022 15:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 16,222 16,322 16,872
CAD 17,864 17,964 18,514
CHF 23,731 23,836 24,636
CNY - 3,407 3,517
DKK - 3,284 3,414
EUR #24,404 24,429 25,539
GBP 28,819 28,869 29,829
HKD 2,881 2,896 3,031
JPY 179.96 179.96 188.51
KRW 16.55 17.35 20.15
LAK - 1.05 2
NOK - 2,389 2,469
NZD 14,838 14,921 15,208
SEK - 2,300 2,410
SGD 16,439 16,539 17,139
THB 624.96 669.3 692.96
USD #23,047 23,067 23,347
Cập nhật: 26/05/2022 15:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 23,070 23,070 23,350
USD(1-2-5) 22,853 - -
USD(10-20) 23,024 - -
GBP 28,509 28,681 29,749
HKD 2,895 2,916 2,999
CHF 23,615 23,758 24,540
JPY 178.27 179.34 187.49
THB 640.07 646.54 705.86
AUD 16,036 16,132 16,670
CAD 17,686 17,793 18,354
SGD 16,488 16,588 17,135
SEK - 2,308 2,384
LAK - 1.47 1.82
DKK - 3,274 3,381
NOK - 2,377 2,455
CNY - 3,391 3,502
RUB - 352 452
NZD 14,719 14,807 15,165
KRW 16.4 - 20.03
EUR 24,288 24,353 25,418
TWD 710.85 - 807.82
MYR 4,934.65 - 5,417.58
Cập nhật: 26/05/2022 15:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 23,050.00 23,060.00 23,330.00
EUR 24,421.00 24,439.00 25,345.00
GBP 28,730.00 28,903.00 29,579.00
HKD 2,899.00 2,911.00 3,001.00
CHF 23,704.00 23,799.00 24,446.00
JPY 179.09 179.81 183.99
AUD 16,126.00 16,191.00 16,770.00
SGD 16,632.00 16,699.00 17,085.00
THB 656.00 659.00 698.00
CAD 17,826.00 17,898.00 18,327.00
NZD 0.00 14,822.00 15,316.00
KRW 0.00 17.55 19.21
Cập nhật: 26/05/2022 15:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 23.010 23.030 23.460
AUD 16.148 16.248 16.856
CAD 17.695 17.895 18.509
CHF 23.839 23.939 24.559
EUR 24.390 24.490 25.255
GBP 28.863 28.913 29.576
JPY 180,36 181,36 187,91
SGD 16.675 16.775 17.085
Cập nhật: 26/05/2022 15:45
  • nhien-lieu-bay-cong-nghe-nang-luong-2021
  • pvgas