Lịch Sử Cột Hải Đăng Vũng Tàu

12:35 | 16/06/2020

|
Về tiến trình xây dựng cột hải đăng Vũng Tàu được thực hiện như sau: Ngày 20-3-1862, xây móng xong. Ngày 25-3-1862, đặt viên đá đầu tiên, phía dưới đặt một hộp kẽm đựng biên bản ghi việc xây dựng viết trên da thuộc, kèm theo 7 đồng tiền niên hiệu hoàng đế Napoléon.
lich su cot hai dang vung tauĐịa Danh Cẩm Kê với Mũi Kê Gà
lich su cot hai dang vung tauBảo vệ trật tự dựa trên quy tắc tại Biển Đông - Thách thức đầy rẫy và "mỏ neo" quý giá (Kỳ 1)
lich su cot hai dang vung tau

Nội dung biên bản như sau: Dưới triều vua Napoléon đệ Tam, hoàng đế của những người Pháp (Empereur des Francais), ngài Công tước Proster de Chasseloup Laubat, Thượng thư bộ Hải quân và Thuộc địa, Đô đốc Công tước Bonard, Tổng chỉ huy các lực lượng lục quân và hải quân trên đất Nam kỳ; Phó Đô đốc hạm đội De La Vergne, Hải quân trung tá, Tổng Tham mưu trưởng; ông Léonce Reynaud, Tổng Thanh tra cầu đường, Giám đốc cơ quan Hải đăng; ông Allard Chánh kỹ sư cầu đường, phụ trách điều hành các hải đăng. 

Hôm nay là ngày hai mươi lắm tháng ba năm một ngàn tám trăm sáu mươi hai (25 - 3 - 1862), lúc 9 giờ sáng, những người lao động (Travailleur) thực hiện việc xây dựng cột hải đăng Vũng Tàu, đã tham gia cử hành lễ đặt viên đá đầu tiên cho công trình.

Viên đá ấy nằm về góc phía Đông của tầng thứ hai của nền móng và chứa đựng một hộp bằng kẽm chứa: 1 - Hai bản sao viết trên da thuộc biên bản này. 2 - Hai miếng vàng và 5 miếng bạc mang niên hiệu Napoléon III. Làm tại Cap Saint Jacques ngày 25 tháng 3 năm 1862.

Đồng ký tên:

Kỹ sư thuộc địa của Hải quân phụ trách công trình: Mauchard; Đốc công công trình: Brullé; Trưởng ban bảo trì: Chambon; Thay mặt các lao động của quân đội, Giám đốc công trường: Baudoin; 

Chứng kiến và ký tên:

Tổng Thanh tra các cơ quan quân sự của Messageries: Jules Girette; Phó Thanh tra: P. Lecat; Kỹ sư Hải quân: Amédée Cazavan; Hạm trưởng: Brossard de Corbiguy;

Chứng thực:

Tổng Tham mưu trưởng: J.de La Vaissière.

Ngày 6-7-1862, Đô đốc Bonard quy định lệ phí hải đăng. Kể từ ngày hải đăng hoạt động, các tàu không kể quốc tịch, phải trả lệ phí bảo quản là 3 xu một tấn. Lệ phí này nạp ở Sài Gòn trong thời hạn 8 ngày từ ngày cặp bến, và chỉ trả một lần trong một năm cho một tàu hay thuyền. Được miễn đóng lệ phí này đối với tàu chiến tất cả các quốc tịch, tàu buôn chỉ ghé tạm và không thực hiện buôn bán tại chỗ, các bưu kiện từ Bắc, Nam và các thuộc địa lân cận, các tàu do nhà nước thuê. Tuy nhiên, khi rời bến có mang theo hàng hóa thì đóng một nửa.

Ngày 25-7-1862, Đô đốc Bonard ký lệnh giao nhiệm vụ cho các cấp thuộc quyền về việc khánh thành hải đăng Vũng Tàu như sau: Ngày 15-8-1862, vào buổi sáng, pháo hạm Forbin đến Vũng Tàu. Pháo hạm này phải kéo cờ từ sáng và bắn chào 21 phát đại bác. Hạm trưởng tàu Forbin hợp cùng kỹ sư thuộc địa tổ chức lễ khánh thành thật long trọng. 

Tăng gấp đôi khẩu phần rượu vang và thêm một nửa ngày lương cho những người làm việc và đội bảo vệ hải đăng. Vào mặt trời lặn, khi hải đăng được thắp sáng, tàu Forbin hạ cờ và bắn chào một lần nữa. Sau lễ chào đó, tàu Forbin sẽ làm mọi việc cần thiết để quan sát ngoài biển tác dụng của hải đăng. Ông Manin, kỹ sư khí tượng sẽ hợp sức cùng hạm trưởng quan sát và làm báo cáo tất cả những gì liên quan đến việc đi biển của tàu thuyền, cùng cách bảo quản hải đăng với nhân sự cần thiết.

Chiều hôm đó, sau lễ khánh thành, công việc quan sát ngọn hải đăng được thực hiện ngay. Và ngày 29-8-1862, một bản báo cáo về việc quan sát ngọn hải đăng Vùng Tàu được gửi lên Đô đốc Bonard do 3 người cùng đứng tên ký là L. Manen, phó ki sư khí tượng, Trưởng nhóm, Simon Trung tá Hải quân, chỉ huy chiến hạm Forbin và là người viết bản báo cáo, Reboul Tổng Tham mưu trưởng. Nội dung báo cáo như sau:

Tuần lệnh của Đô đốc, chúng tôi thu thập được các chỉ dẫn hữu ích cho việc lưu thông thủy liên quan đến ngọn hai đăng cùng các vùng biển mà nó chiếu tới.

Nhận xét đầu tiên ngay buổi chiều 15-8-1862 là khởi hành từ Vùng Tàu trên chiến hạm Forbin, lúc 8 giờ chiều, bầu trời trong suốt, chúng tôi ra khơi theo hướng Nam một phần tư đông nam. Tới cách xa 33 dặm rưỡi thì ngọn đèn khuất sau chân trời. Trước đó một lát, ánh sáng của nó còn ro hoàn toàn. Chúng tôi theo dỏi ngọn đèn trong các đêm sau trên con tàu, cách xa khoảng 18 dặm về phía đông và Đông đông nam. Với khoảng cách này, ánh sáng của nó tuyệt diệu. Chúng tôi đã thử nghiệm nhiều lần theo các chiều gió khác nhau để đi đến kết luận thuyết phục ấy.

Việc xây dựng cột hải đăng thuần túy, nghĩa là trụ tháp và ngọn đèn đã thực sự hoàn thành, chỉ trừ một vài chi tiết không đáng kể của khung sườn (chrpente) và điều chinh trục.

Cuối cùng, kể từ hôm nay, công việc của ngọn hải đăng đã hoàn toàn bảo đảm và đưa vào hoạt động bình thường.

Đến ngày 25-4-1867 một thông cáo của Tổng Tham mưu trưởng được công bố như sau: Tổng Tham mưu trưởng hân hạnh thông báo tới các vị thuyền trường tàu buôn biết rằng trong tương lai, một tín hiệu chuyển đi từ Sài Gòn sẻ báo cho hải đăng Vùng Tàu bằng ba quả bóng màu đen, màu trắng, màu đen và trắng.

Khi có nhiều tàu cùng chờ tín hiệu từ Sài Gòn, nhân viên phụ trách điện tín sẽ lần lượt thông báo cho thuyến trưởng thứ nhất biết sẽ được trả lời bằng tín hiệu một quả bóng trắng treo cao trên đình cột cờ Thủ Ngữ; thuyền trưởng thứ hai bằng một quả bóng màu đen; thuyền trưởng thứ ba bằng một qua bóng màu đen và trắng, từ thuyền trưởng thứ tư trở đi lần lượt bằng các quả bóng chồng lên nhau từng đôi một.

Ngọn đèn số 8 trên đầu cột cờ sẽ báo cho tàu đi lên Sài Gòn hay từ Sài Gòn đi xuống bởi một tín hiệu từ dưới đất. Ngọn đèn hoa tiêu sẽ vẩn dùng như trước để gọi một viên hoa tiêu'. Cột hoa tiêu với ngọn đen số 8 ở dưới có nghĩa là tàu chạy bằng hơi nước đã nhận thấy hiệu lệnh. Nếu ngọn đèn số 8 ở trên cột hoa tiêu cho biết một chiếc tàu chạy buồm đã nhận thấy tín hiệu. Các tín hiệu ước lệ ấy sẽ được áp dụng từ ngày 15-5-1867 và được niêm yết tại thương cảng Sài Gòn.

Do báo cáo của Phó kỷ sư L.Manen, ngày 29-5-1962 Thống soái Bonard mới thông báo cho tàu thuyền biết, qua các chi tiết sau đây: Cột hải đăng này thuộc loại hạng nhất, có đèn màu trắng và cố định. Tấm xa của ánh đèn theo lý thuyết là 28 dặm. Qua thực nghiệm, gặp trời tốt, tầm xa đến 33 dặm. Chiều cao của quả núi trên đó xây hải đăng là 139m. Hải đăng cao 8m, cộng chung 147m. Khoảng cách ánh xạ từ đình đổi có cột hải đăng đến điểm cực Nam của đảo là 710m tọa độ của cột hải đăng là 10 20'00" vĩ tuyển Bắc, 104°44'41" kinh tuyến Đông Paris (2).

CHÚ THÍCH:

(1) Không rõ hiệu lệnh gọi hoa tiêu như thế nào.

(2) Tài liệu tham khảo để viết bài này đăng trong các số báo Bulletin Officiel de la Cochinchine Francaise các năm liên hệ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia II.

Nguyễn Đình Tư

Trích