Giỗ Tổ Hùng Vương: Thiêng liêng hai tiếng "Đồng bào"!
![]() |
Ít có dân tộc nào trên thế giới gọi nhau bằng một danh xưng giàu tính biểu tượng và cảm xúc như người Việt. “Đồng bào” có nghĩa là trong cùng một bọc, qua truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên. Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ không chỉ là câu chuyện khởi nguyên, mà còn là một “tuyên ngôn văn hóa” về sự gắn kết huyết thống, về ý thức cộng đồng vượt lên mọi khác biệt.
Trong ý nghĩa ấy, Giỗ Tổ Hùng Vương không đơn thuần là một ngày lễ, mà là một nghi lễ ký ức, nơi mỗi người Việt tự nhận diện mình trong dòng chảy lịch sử hàng nghìn năm. Khi hàng triệu con người cùng cúi đầu trước anh linh tổ tiên, mọi ranh giới về địa lý, nghề nghiệp hay hoàn cảnh đều tan biến, chỉ còn lại một sợi dây vô hình nhưng bền chặt: tình dân tộc, nghĩa đồng bào.
Chính vì vậy, ngày Quốc lễ này không chỉ nhắc nhớ quá khứ, mà còn nuôi dưỡng hiện tại và định hình tương lai. Từ những cụ già đến những em nhỏ lần đầu hành hương, từ người dân miền xuôi, miền ngược đến bà con ta ở xa Tổ quốc vừa trở về, mỗi nén tâm hương dâng lên không chỉ là lòng thành kính, mà còn là sự tiếp nối ký ức, tiếp nối trách nhiệm, tiếp nối niềm tin vào sự trường tồn của dân tộc. Ý thức về cội nguồn chính là nền tảng sâu xa của sự cố kết cộng đồng, là điểm tựa tinh thần để dân tộc vượt qua mọi biến thiên của lịch sử.
Trong bối cảnh Đảng ta vừa ban hành Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa, ý nghĩa của Giỗ Tổ Hùng Vương càng trở nên thời sự và sâu sắc. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt của đời sống xã hội, khơi dậy truyền thống yêu nước, củng cố niềm tin và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời mở rộng hội nhập quốc tế về văn hóa để nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Nhìn từ tinh thần ấy, Giỗ Tổ Hùng Vương chính là một biểu tượng tiêu biểu của sức mạnh nội sinh văn hóa Việt Nam. Không cần những diễn ngôn lớn lao, chính sự tự nguyện hướng về cội nguồn của hàng triệu người đã tạo nên một lực kết dính bền bỉ, âm thầm mà mạnh mẽ.
Từ trong chiều sâu lịch sử, tinh thần Đồng bào đã nhiều lần trở thành nguồn năng lượng giúp dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Trong chiến tranh, đó là sức mạnh của sự đồng lòng. Trong hòa bình, đó là nền tảng của phát triển. Ngay trong những năm tháng gần đây, khi đất nước đối diện với thiên tai, dịch bệnh, tinh thần ấy lại được đánh thức, lan tỏa mạnh mẽ qua những hành động sẻ chia, tương trợ. Những chuyến xe cứu trợ xuyên đêm, những nghĩa cử nhường cơm sẻ áo, hay sự liên kết của cộng đồng doanh nghiệp… tất cả đều bắt nguồn từ một mạch nguồn văn hóa chung, từ ý thức rằng chúng ta là những con người “cùng một bọc”.
Lễ hội Đền Hùng vì thế không chỉ là một sự kiện văn hóa, mà còn là một “Bảo tàng sống” của dân tộc. Ở đó hội tụ nhiều lớp trầm tích văn hóa, từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, các truyền thuyết thời Hùng Vương đến những nghi thức rước kiệu, tế lễ cổ truyền, những làn điệu hát Xoan, những trò chơi dân gian, phong tục, ẩm thực… Tất cả hòa quyện thành một không gian văn hóa vừa thiêng liêng, vừa gần gũi. Trong không gian ấy, người dân không đứng ngoài chiêm ngưỡng, mà trực tiếp tham gia, trực tiếp “sống” cùng di sản, làm cho di sản trở nên sống động và có sức lan tỏa.
Ngày nay trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc đổi mới lễ hội là yêu cầu tất yếu. Vấn đề đặt ra không phải là có đổi mới hay không, mà là đổi mới như thế nào để vừa phù hợp với thời đại, vừa giữ được hồn cốt văn hóa dân tộc. Đổi mới ở đây cần được hiểu là giữ nguyên giá trị cốt lõi nhưng làm mới cách tiếp cận và lan tỏa.
Công nghệ có thể trở thành một công cụ hữu hiệu. Việc số hóa di sản, xây dựng các thư viện số về thời đại Hùng Vương, ứng dụng công nghệ 3D để lưu giữ không gian đền, hay sử dụng mã QR, ứng dụng di động để hỗ trợ du khách sẽ giúp nâng cao trải nghiệm và mở rộng khả năng tiếp cận. Những công nghệ như thực tế ảo, thực tế tăng cường có thể tái hiện sinh động lịch sử, giúp thế hệ trẻ hiểu và cảm nhận sâu sắc hơn về cội nguồn. Truyền thông số cũng có thể đưa lễ hội vượt ra khỏi không gian địa lý, lan tỏa đến cộng đồng người Việt trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, mọi sự đổi mới đều cần có giới hạn. Lễ hội tâm linh không thể trở thành một sân khấu trình diễn thuần túy. Những yếu tố lai căng, những biểu tượng xa lạ với truyền thống, hay xu hướng thương mại hóa quá mức cần được nhận diện và điều chỉnh. Nếu chạy theo sự phô diễn mà làm nhạt đi tính thiêng, thì đó không còn là đổi mới, mà là đánh mất. Công nghệ chỉ nên đóng vai trò hỗ trợ, không thể thay thế con người và giá trị văn hóa cốt lõi.
Trong dòng chảy hội nhập, Giỗ Tổ Hùng Vương còn mang một ý nghĩa rộng lớn hơn, đó là góp phần khẳng định bản sắc văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế. Khi nhiều quốc gia tìm cách xây dựng hình ảnh và sức mạnh mềm, thì Việt Nam đã có một biểu tượng độc đáo: một ngày Quốc lễ gắn với đạo lý tri ân tổ tiên và tinh thần cộng đồng sâu sắc. Nếu được tổ chức và lan tỏa đúng cách, đây không chỉ là di sản của riêng dân tộc Việt, mà còn có thể trở thành một giá trị văn hóa có sức hấp dẫn với bạn bè quốc tế.
“Chim có tổ người có tông/Như cây có cội, như sông có nguồn”. Giỗ Tổ Hùng Vương không chỉ là một ngày Lễ thiêng để con cháu hoan hỉ đi về, mà còn là dịp để mỗi người tự soi chiếu lại mình trong mối quan hệ với cộng đồng và dân tộc. Từ Đất Tổ linh thiêng, dòng chảy văn hóa ấy vẫn đang tiếp tục lan tỏa, nuôi dưỡng tâm hồn và ý chí của các thế hệ người Việt.
Trong kỷ nguyên của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, dân tộc Việt Nam có thể đi rất nhanh, đi rất xa, nhưng để đi vững chắc, vẫn cần một điểm tựa. Và điểm tựa ấy chính là văn hóa, là cội nguồn, là hai tiếng “đồng bào” thiêng liêng, mãi ngân vang trong tâm thức mỗi người. Đó chính là bảo chứng cho sức mạnh đại đoàn kết, là nền tảng để dân tộc vững bước trên hành trình phát triển, hội nhập và khẳng định mình trong thế giới hôm nay.
Hải Đường
