Chủ nhật 25/08/2019 11:31

EVFTA giải tỏa “điểm nghẽn” của dệt may Việt Nam

08:57 | 16/07/2019

|
Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp (DN) Việt Nam, đặc biệt mang lại nhiều thuận lợi nhất cho DN dệt may. Tuy nhiên, EVFTA chỉ mang lại cơ hội hay cả thách thức? Phóng viên Báo Năng lượng Mới đã có cuộc trao đổi với ông Trương Văn Cẩm -  Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam - về vấn đề này.

PV: EVFTA vừa được ký kết, trong đó dệt may được coi là lĩnh vực hưởng lợi nhiều nhất. Ông đánh giá thế nào về cơ hội này?

evfta giai toa diem nghen cua det may viet nam

Ông Trương Văn Cẩm: Trước khi EVFTA chính thức được ký kết, nhiều ý kiến cho rằng dệt may sẽ là ngành hưởng lợi nhiều nhất từ EVFTA. Tuy nhiên, với vai trò là người trong cuộc, chúng tôi nhìn nhận có cả cơ hội và thách thức khi EVFTA được phê chuẩn.

Về cơ hội, có thể thấy rõ, EVFTA sẽ mở ra một thị trường xuất khẩu dệt may rất lớn cho Việt Nam. Bởi nhu cầu nhập khẩu hàng dệt may của EU là lớn nhất thế giới với giá trị khoảng 250 tỉ USD mỗi năm, lớn hơn gấp đôi so với Mỹ. Thị trường EU có tới 500 triệu dân, chiếm khoảng 26% GDP toàn cầu, 20% thương mại toàn cầu. Khi EVFTA có hiệu lực, các DN có cơ hội tăng sản xuất, xuất khẩu, vì đa phần dòng thuế sẽ giảm dần về 0% trong khoảng 3-7 năm, trong khi hiện nay chúng ta hiện đang chịu thuế suất bình quân khoảng 96%.

PV: Nhưng EVFTA quy định rất nghiêm ngặt về nguồn gốc xuất xứ của sợi, hiểu đơn giản là vải may. Ông có thể cho biết cơ hội nằm ở đâu với quy định này, nhất là trong bối cảnh Việt Nam chủ yếu nhập khẩu vải may xuất khẩu?

Ông Trương Văn Cẩm: Đúng là EVFTA và cả Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đều yêu cầu xuất xứ của vải, của sợi. Nhưng theo tôi, đây lại là cơ hội để chúng ta thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực mà chúng ta đang còn yếu, ví dụ như dệt vải, nhuộm. Sợi chúng ta cũng sản xuất được nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của EVFTA và CPTPP, còn phải cố gắng rất nhiều. Cho nên các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) sẽ là cơ hội giải tỏa điểm nghẽn của dệt may Việt Nam, đó là dệt vải, một khâu rất yếu trong chuỗi giá trị dệt may.

Trung Quốc là thị trường mà Việt Nam nhập khẩu vải nhiều nhất với giá trị khoảng 7 tỉ USD/năm, Hàn Quốc đứng thứ 2 với 2 tỉ USD/năm, Đài Loan khoảng 1,6 tỉ USD/năm, Nhật Bản khoảng 750 triệu USD/năm.

PV: Vậy có nghĩa là chúng ta sẽ biến thách thức thành cơ hội?

Ông Trương Văn Cẩm: Có thể nói như vậy. EVFTA, CPTPP tạo cho chúng ta những sức ép nhất định. Sức ép đó sẽ thúc đẩy mạnh mẽ cải cách về thể chế, nội luật hóa những quy định đã cam kết thực hiện trong EVFTA, CPTPP. Với những thay đổi đó, các DN dệt may Việt Nam cũng như các DN trong nền kinh tế được thuận lợi hóa về thương mại, được gỡ bỏ những rào cản đang vướng mắc, thuận lợi về thủ tục hành chính, kiểm tra chuyên ngành…

PV: Bên cạnh đó chúng ta còn thách thức nào nữa không, thưa ông?

Ông Trương Văn Cẩm: Theo tôi thách thức cũng còn không ít khi EVFTA được phê chuẩn. EVFTA đã “đánh” đúng vào điểm yếu của chúng ta khi yêu cầu về xuất xứ của sợi, vải. Nếu chúng ta không đáp ứng được yêu cầu xuất xứ của vải thì không được hưởng thuế suất ưu đãi 0% khi xuất khẩu vào EU. Nhưng nói thế không có nghĩa không có cách giải quyết, bởi trong EVFTA có quy định mà chúng ta có thể tận dụng, đó là có thể sử dụng vải nhập từ Hàn Quốc để may sản phẩm xuất khẩu. Bởi đây là nước có FTA với EU. Hiện nay chúng ta đang nhập khoảng 2 tỉ USD tiền vải mỗi năm từ Hàn Quốc. Chúng ta có thể sử dụng nguồn vải này để may hàng xuất khẩu sang EU, được coi như vải may sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ, được hưởng thuế suất 0%.

evfta giai toa diem nghen cua det may viet nam
Dệt may Việt Nam chủ yếu vẫn là gia công

Hiện nay, Trung Quốc là thị trường mà Việt Nam nhập khẩu vải nhiều nhất với giá trị khoảng 7 tỉ USD/năm, Hàn Quốc đứng thứ 2 với 2 tỉ USD/năm, Đài Loan khoảng 1,6 tỉ USD/năm, Nhật Bản khoảng 750 triệu USD/năm. Tuy nhiên, nhập vải từ Hàn Quốc để may hàng xuất khẩu sang EU chỉ là giải pháp “tình thế” do số vải nhập từ Hàn Quốc không nhiều.

Theo tôi, về lâu dài, để giải quyết vấn đề nguồn gốc xuất xứ vải khi may hàng xuất khẩu sang EU, chỉ có cách các DN dệt may trong nước phải phối hợp, liên kết với nhau để có thể sử dụng nguồn vải của nhau; phải liên kết với nhau để đầu tư hoặc thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực dệt vải nhằm bảo đảm nguồn vải may hàng xuất khẩu sang EU, hưởng tối đa ưu đãi.

Thời gian qua, hàng dệt may Việt Nam chủ yếu gia công xuất khẩu (chiếm hơn 60%), tỉ trọng hàng mua đứt bán đoạn hoặc OBM (sản xuất sản phẩm thương hiệu gốc), ODM (hàng thiết kế, sản xuất theo đặt hàng của khách hàng) còn khá thấp, đặc biệt là hàng OBM chỉ chiếm khoảng 1-2%.

PV: Thách thức mà EVFTA mang lại, theo ông đã dừng ở đó chưa?

Ông Trương Văn Cẩm: Còn những thách thức nữa mà chúng ta phải đối mặt không chỉ ở EVFTA mà cả CPTPP, đó là an toàn về sản phẩm, về môi trường, dân sinh, lao động… Bởi đây là những thị trường rất khó tính, đòi hỏi chất lượng cao, nhất là yêu cầu bảo đảm các vấn đề trên trong quá trình sử dụng sản phẩm. Về các điều kiện này, thực sự các DN Việt Nam chưa chú trọng. Chính vì vậy, để tận dụng tốt các cơ hội của EVFTA, CPTPP, các DN trong nước phải cải thiện những hạn chế đó. Nếu không, chỉ cần một lần mắc lỗi bị trả lại hàng, việc đặt chân lại vào thị trường EU là cực kỳ khó khăn.

PV: Hiện nay, hàng may mặc của Việt Nam chủ yếu là gia công, chất lượng chưa cao. Câu chuyện Big C từ chối sản phẩm may mặc của DN Việt Nam là một ví dụ cho thấy chất lượng hàng may mặc nội địa đến đâu. Ông đánh giá như thế nào về vấn đề này?

evfta giai toa diem nghen cua det may viet nam
Dệt vải là điểm yếu của ngành dệt may Việt Nam

Ông Trương Văn Cẩm: Thời gian qua, hàng dệt may Việt Nam chủ yếu gia công xuất khẩu (chiếm hơn 60%), tỉ trọng hàng mua đứt bán đoạn hoặc OBM (sản xuất sản phẩm thương hiệu gốc), ODM (hàng thiết kế, sản xuất theo đặt hàng của khách hàng) còn khá thấp, đặc biệt là hàng OBM chỉ chiếm khoảng 1-2%, tức là hàng thương hiệu Việt, mẫu mã Việt, sản xuất rồi đưa vào hệ thống phân phối.

Trong thời gian qua, ngành dệt may Việt Nam phát triển từ một ngành gần như chỉ sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước đến xuất khẩu một lượng rất lớn hàng hóa, kim ngạch rất cao. Thường khi phát triển nhanh thì phải chọn khâu nào phù hợp, dễ dàng để tập trung sản xuất. Đó là lý do tại sao năm 1990 chúng ta mới xuất khẩu được 55 triệu USD mà đến năm 2018 đã tới con số 36,2 tỉ USD. Chúng ta tập trung vào khâu may, còn khâu dệt và nhuộm thì rất yếu.

Tuy nhiên, những khâu đó yếu là do chúng ta cũng có khó khăn nhất định. Tôi lấy ví dụ, đầu tư vào dệt, nhuộm cần nguồn vốn rất lớn. Dĩ nhiên, vốn không phải giữ vai trò quyết định, nhưng không có tiền thì khó biến ước mơ thành hiện thực. Đã vậy, những điều kiện tiên quyết như nhân lực, công nghệ, thiết bị chúng ta đều yếu. Tôi đánh giá, hiện nay khâu yếu nhất chính là con người. Trước đây chúng ta có những chuyên gia rất giỏi, được đi nước ngoài đào tạo, nhưng đội ngũ đó đến giờ đã nghỉ. Đội ngũ mới hiện nay cũng được đào tạo nhưng chưa bảo đảm chất lượng để có thể đáp ứng công việc thực tế, vì các cơ sở đào tạo chưa tập trung, quy mô đào tạo lại nhỏ. Hiện có trường Đại học Bách Khoa đào tạo về dệt, nhuộm, nhưng ít có sinh viên theo học, sinh viên lựa chọn học ngành này chỉ vì không đủ năng lực vào ngành khác. Bên cạnh đó, trang thiết bị kỹ thuật đào tạo lại thiếu, tụt hậu không chỉ với thế giới mà ngay cả với DN đang hoạt động trong lĩnh vực dệt, nhuộm.

PV: Để nâng cao chất lượng hàng dệt may Việt Nam, theo ông chúng ta phải làm những gì?

Ông Trương Văn Cẩm: Theo tôi, yếu tố quyết định đầu tiên là con người, cho nên các cơ sở đào tạo phải chấp nhận tốn kém mời chuyên gia giỏi của nước ngoài vào đào tạo hoặc cử người có năng lực đi đào tạo tại nước ngoài, phải cấp kinh phí cho họ để họ có động lực theo học chuyên ngành rất khó này.

Bên cạnh đó nhà trường phải đầu tư thiết bị nhưng phải tương đương với thiết bị đang sử dụng tại DN để khi ra trường sinh viên mới có thể làm việc được. Còn nếu không đủ điều kiện đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, các cơ sở đào tạo có thể phối hợp, liên kết với DN để đưa sinh viên về đào tạo, thực tập tại DN.

Ngoài ra, Nhà nước cũng nên có chính sách hỗ trợ đối với công tác đào tạo trong lĩnh vực dệt may, các DN tăng cường đầu tư vào dệt, nhuộm…

PV: Cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!

Hóa giải thách thức, tận dụng cơ hội

VFTA là cơ hội để DN đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường tiềm năng và nhập khẩu thiết bị, nguyên liệu với giá thấp, chất lượng cao. Tuy nhiên, DN phải đáp ứng quy định về xuất xứ, hàng rào kỹ thuật và thay đổi mô hình, nâng cao năng lực cạnh tranh... Đây là nhận định của các chuyên gia kinh tế tại hội thảo “Nhận diện cơ hội kinh doanh trong bối cảnh EVFTA sớm được thông qua” diễn ra mới đây.

Phát biểu tại hội thảo, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhấn mạnh: Việc ký kết EVFTA sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.

Ông Ngô Chung Khanh, Phó vụ trưởng Vụ Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) nhận xét: EVFTA sẽ tác động mạnh mẽ đến các ngành dệt may, thủy sản, nông nghiệp... Gạo Việt Nam vốn xuất khẩu sang EU rất khó, phải đối mặt với sự cạnh tranh từ gạo Myanmar, Campuchia (hai nước đang được hưởng thuế suất 0% khi xuất khẩu sang EU). Ví như ở thị trường Italia, kim ngạch xuất khẩu gạo Việt Nam trung bình chỉ 100.000 USD/năm, nhưng Campuchia tới vài triệu USD mỗi năm. Tuy nhiên, sau khi EVFTA có hiệu lực, gạo sẽ được hưởng lợi lớn khi thuế suất về 0%. Đây là cơ hội “vàng” để Việt Nam đưa mặt hàng lợi thế của mình vào chiếm lĩnh thị trường EU.

Bên cạnh đó, dệt may cũng được đánh giá được hưởng nhiều ưu đãi từ EVFTA. EU vốn là một thị trường đầy tiềm năng với ngành dệt may Việt Nam trong nhiều năm qua. Khi EVFTA có hiệu lực, sản phẩm dệt may Việt Nam sẽ cạnh tranh bình đẳng với các nước khác.

Theo ông Vũ Tiến Lộc, để hiện thực hóa những cơ hội đến từ EVFTA, các DN Việt Nam sẽ phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn khắt khe về xuất xứ, hàng rào kỹ thuật như vệ sinh an toàn thực phẩm, quan hệ lao động, phát triển bền vững… “Để hóa giải những thách thức này và tận dụng tối đa các cơ hội mà EVFTA mang lại, rất cần sự nỗ lực của Chính phủ, các bộ, ngành và cộng đồng DN. Quá trình nội luật hóa các cam kết trong EVFTA đòi hỏi Việt Nam phải khéo léo tận dụng các khoảng không gian chính sách để sửa đổi hệ thống pháp luật phù hợp, không dễ nhưng buộc phải làm. Đặc biệt, bản thân DN phải có tầm nhìn toàn diện hơn, chủ động hơn trong việc tiếp cận thông tin về các thị trường mới.

Còn theo ông Ngô Chung Khanh, những đối thủ cạnh tranh lớn của Việt Nam hiện nay như Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia... sẽ không đứng yên để nhìn Việt Nam hưởng lợi và vượt trội khi xuất khẩu hàng hóa vào EU. Họ sẽ chủ động và đẩy mạnh việc đàm phán với EU để có được FTA với thị trường đầy tiềm năng này. Đến khi đó, Việt Nam sẽ không còn lợi thế tại EU nữa. “Do đó, Việt Nam phải tận dụng cơ hội này càng nhanh càng tốt. DN Việt cần nhanh chóng nhập cuộc, nâng cao năng lực cạnh tranh để tận dụng tối đa lợi ích từ EVFTA”, ông Khanh nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Hải Minh, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham): Nâng cao tính tuân thủ theo các chuẩn mực quốc tế

evfta giai toa diem nghen cua det may viet nam

VFTA thực sự là cơ hội để mở ra một thị trường lớn với thuế suất được giảm rất nhiều, trong đó 99% các dòng thuế sẽ được giảm xuống 0% trong quá trình chuyển đổi. EVFTA cam kết hướng tới thương mại công bằng và tự do, tập trung phát triển bền vững - phát triển kinh tế gắn liền với việc bảo vệ môi trường, tăng cường phúc lợi xã hội.

Việt Nam là một trong những thị trường tiềm năng của EU và EU là một thị trường lớn của Việt Nam. EVFTA là cơ hội để hai bên có thể thu hút được những khoản đầu tư mới. Việt Nam có cơ hội xuất khẩu sang EU các sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế, như đồ gỗ, dệt may, nông sản, thủy sản... EU có thể xây dựng những cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu tại Việt Nam…

Một điểm nữa cũng rất quan trọng trong EVFTA đó là hai bên đã xây dựng được một khuôn khổ pháp lý rất ổn định cho mối quan hệ về kinh tế, có thể trao đổi tất cả các nội dung liên quan đến việc thực thi hiệp định EVFTA. Hai bên sẽ hướng đến làm thế nào để triển khai hiệu quả những thỏa thuận trong EVFTA. Đây là một trong những nhiệm vụ rất khó khăn, bởi nó không chỉ liên quan đến thuế quan mà còn liên quan đến những vấn đề như kỹ thuật, chuyên môn… mà hai bên cần giải quyết để hiện thực hóa các cam kết trong EVFTA.

Việt Nam hãy coi EVFTA là cơ hội để nâng cao tính tuân thủ theo các chuẩn mực quốc tế và tăng cường chất lượng hàng hóa. Khi DN Việt Nam đã đáp ứng được những quy định của việc xuất khẩu vào thị trường châu Âu thì có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn xuất khẩu của các thị trường khác trên thế giới.

Nguyễn Anh