Điện gió ngoài khơi mở không gian tăng trưởng xanh trên biển
Mở rộng không gian cho các ngành kinh tế biển xanh
Trao đổi về những lĩnh vực có nhiều dư địa tạo đột phá trong tăng trưởng xanh, TS. Dư Văn Toán - Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, điện gió ngoài khơi và các dạng năng lượng tái tạo biển đang nổi lên như một động lực quan trọng. Cùng với sản xuất điện, Việt Nam có thể từng bước hình thành chuỗi giá trị liên quan đến hydrogen, amoniac xanh, chế tạo thiết bị, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng và các dịch vụ cảng phục vụ ngành công nghiệp ngoài khơi.
Đáng chú ý, dư địa của năng lượng biển không chỉ nằm ở điện gió ngoài khơi mà còn mở rộng sang điện sóng, điện thủy triều, điện hải lưu và các dạng năng lượng tái tạo khác. Khi được tích hợp với sản xuất hydrogen, amoniac xanh, các nguồn năng lượng này có thể tạo thêm sản phẩm phục vụ công nghiệp trong nước hoặc hướng tới xuất khẩu.
![]() |
| Điện gió ngoài khơi không chỉ tạo thêm nguồn điện sạch mà còn mở ra chuỗi giá trị mới từ chế tạo, lắp đặt, vận hành, cảng dịch vụ đến hydrogen và amoniac xanh. |
Theo TS. Dư Văn Toán, bên cạnh năng lượng biển, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao và kinh tế tuần hoàn cũng là lĩnh vực có tiềm năng lớn. Định hướng phát triển kinh tế biển hiện nay không chỉ dừng ở khai thác tài nguyên tự nhiên mà cần chuyển sang mô hình nuôi biển công nghệ cao, kiểm soát môi trường và nâng cao giá trị sản phẩm.
Một mắt xích quan trọng khác là logistics biển, cảng nước sâu và dịch vụ hàng hải xanh. Theo chuyên gia, khi các dự án điện gió ngoài khơi, khu công nghiệp ven biển và các trung tâm năng lượng phát triển, nhu cầu về cảng dịch vụ, kho bãi, vận chuyển, bảo dưỡng và hậu cần sẽ tăng lên, qua đó hình thành các cụm tăng trưởng mới tại khu vực ven biển.
Du lịch biển cũng cần được đặt trong tư duy phát triển mới. Thay vì mở rộng du lịch đại trà, dư địa tăng trưởng nằm ở du lịch sinh thái, chất lượng cao, dựa vào cộng đồng và gắn với bảo tồn đa dạng sinh học. Các hoạt động như lặn biển, nghiên cứu, giáo dục môi trường và trải nghiệm tại các khu bảo tồn có thể tạo ra giá trị gia tăng, đồng thời góp phần nâng cao giá trị của tài nguyên biển.
Cảng biển trở thành "hạ tầng xanh" của nền kinh tế
Trong hệ sinh thái kinh tế biển, cảng biển và logistics có vai trò đặc biệt bởi đây vừa là nơi tập trung hoạt động vận tải, vừa kết nối các ngành năng lượng, công nghiệp, thủy sản và thương mại. TS. Dư Văn Toán cho rằng, cách tiếp cận cần chuyển từ xây dựng "cảng ít ô nhiễm" sang phát triển cảng như một trung tâm năng lượng, logistics và dữ liệu xanh.
Trước hết, các cảng cần giảm phát thải ngay trong hoạt động khai thác. Điện khí hóa thiết bị cảng, thay thế dần xe đầu kéo, cẩu bãi, xe nâng sử dụng diesel bằng thiết bị điện hoặc nhiên liệu phát thải thấp là những giải pháp có thể triển khai. Cùng với đó là phát triển hệ thống cấp điện bờ để tàu có thể sử dụng điện khi neo đậu, thay vì duy trì máy phát diesel phụ.
![]() |
| TS. Dư Văn Toán - Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). |
Các cảng cũng có thể khai thác điện mặt trời trên mái kho, bãi xe và công trình điều hành, kết hợp vi lưới và hệ thống lưu trữ điện. Việc sử dụng đèn LED, tự động hóa vận hành cẩu, quản lý phụ tải theo thời gian thực và thu hồi năng lượng trong quá trình nâng, hạ container cũng góp phần giảm tiêu thụ năng lượng.
Tuy nhiên, theo TS. Dư Văn Toán, xanh hóa cảng không thể chỉ diễn ra trong phạm vi hàng rào cảng. Nếu hàng hóa tiếp tục được vận chuyển chủ yếu bằng xe tải diesel, thường xuyên chạy rỗng và ùn tắc, hiệu quả giảm phát thải của cả hệ thống sẽ bị hạn chế. Vì vậy, cần tăng cường kết nối đường sắt, đường thủy nội địa với cảng; phát triển phương tiện phát thải thấp trên các tuyến phù hợp; tổ chức logistics hai chiều và số hóa việc đặt lịch, theo dõi container, chứng từ và điều phối phương tiện.
Trong dài hạn, các cảng lớn có thể trở thành trung tâm cung ứng năng lượng và nhiên liệu sạch cho hoạt động hàng hải. Điện tái tạo, nhiên liệu sinh học bền vững, methanol xanh, amoniac xanh hoặc hydrogen có thể từng bước được tích hợp khi công nghệ, tiêu chuẩn an toàn và nguồn cung đáp ứng yêu cầu.
Cùng với giảm phát thải carbon, cảng xanh phải gắn với bảo vệ hệ sinh thái. Kiểm soát nước thải, dầu tràn, bụi, tiếng ồn, chất thải từ tàu; tăng cường tái chế; quan trắc chất lượng nước, không khí và đa dạng sinh học; phục hồi vùng đệm sinh thái, rừng ngập mặn là những yêu cầu cần được đặt song song với phát triển hạ tầng.
Để các giải pháp này không chỉ dừng ở mô hình thí điểm, TS. Dư Văn Toán cho rằng, cần một hệ thống chính sách đồng bộ, gồm tiêu chuẩn phát thải và hiệu suất năng lượng, cơ chế phí cảng xanh, tín dụng và trái phiếu xanh, hỗ trợ đầu tư hạ tầng cấp điện bờ, cùng quy hoạch tích hợp giữa cảng biển với đường sắt, đường thủy, khu công nghiệp và đô thị.
Với Việt Nam, lộ trình có thể bắt đầu từ việc kiểm kê phát thải, xác định mức tiêu thụ năng lượng tại từng cảng; sau đó ưu tiên các giải pháp giảm phát thải nhanh như tối ưu lịch tàu, giảm thời gian chờ, sử dụng điện sạch và quản lý thiết bị. Trên nền tảng đó, từng bước điện hóa thiết bị, triển khai cấp điện bờ, mở rộng kết nối vận tải xanh và hình thành hệ sinh thái nhiên liệu sạch, logistics tuần hoàn.
Khi cảng biển không chỉ là nơi tiếp nhận và trung chuyển hàng hóa mà trở thành một mắt xích của hệ thống năng lượng, công nghiệp và logistics xanh, lợi thế biển sẽ được chuyển hóa thành động lực tăng trưởng mới, đồng thời hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải và phát triển bền vững của nền kinh tế.
Đình Khương
-
Điện gió ngoài khơi mở không gian tăng trưởng xanh trên biển
-
Nâng tầm vị thế cảng biển Hải Phòng trên bản đồ hàng hải quốc tế
-
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Trợ lý Tổng thống, Chủ tịch Hội đồng Biển Liên bang Nga
-
Quảng Trị mở rộng không gian phát triển kinh tế biển
-
Điều chỉnh Quy hoạch Khu kinh tế Vũng Áng lấy công nghiệp, cảng biển, logistics làm động lực

