Thị trường hydrogen sạch Việt Nam: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ
Ngày 2/10 tại Hà Nội, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC), thuộc Bộ Tài chính, phối hợp với Viện Tăng trưởng xanh toàn cầu (GGGI) tổ chức Hội thảo tham vấn Báo cáo “Thị trường Hydrogen sạch tại Việt Nam”.
![]() |
| Quang cảnh buổi hội thảo. |
Sự kiện có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, hiệp hội, doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng, lọc hóa dầu, hóa chất, cùng các trường đại học và viện nghiên cứu. Đây là dịp để các bên trao đổi về hiện trạng, tiềm năng phát triển thị trường hydrogen sạch cũng như những điều kiện cần thiết để thúc đẩy các dự án trong thời gian tới.
Hội thảo được tổ chức trong khuôn khổ các hoạt động hưởng ứng Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026, đồng thời diễn ra đúng dịp kỷ niệm 7 năm thành lập NIC.
Thị trường còn khoảng cách lớn với mục tiêu
Tại hội thảo, nhóm chuyên gia xây dựng báo cáo trình bày những đánh giá về quy mô và tiềm năng thị trường, nhu cầu sử dụng hydrogen, chính sách và khung pháp lý, bức tranh đầu tư, các rào cản đối với dự án cũng như những nhóm hành động được đề xuất.
Theo dự thảo báo cáo, Việt Nam hiện sản xuất khoảng 500.000 tấn hydrogen mỗi năm, trong đó khoảng 36% phục vụ lĩnh vực lọc hóa dầu và 64% dùng cho sản xuất phân bón. Tuy nhiên, nguồn hydrogen hiện nay vẫn chủ yếu được sản xuất từ than và khí tự nhiên; chưa có dự án hydrogen xanh lá hoặc xanh lam quy mô thương mại đi vào vận hành.
Trong khi đó, Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen của Việt Nam đặt mục tiêu sản xuất khoảng 100.000-500.000 tấn/năm vào năm 2030 và 10-20 triệu tấn/năm vào năm 2050.
Khoảng cách giữa mục tiêu dài hạn và năng lực thị trường hiện tại cho thấy quy mô chuyển đổi phía trước còn rất lớn. Đây cũng là dư địa để các ngành đang sử dụng hydrogen truyền thống từng bước chuyển sang các nguồn hydrogen có mức phát thải thấp hơn.
Dự thảo báo cáo cho rằng Việt Nam có một số lợi thế đáng kể để phát triển hydrogen sạch, trong đó có nguồn năng lượng tái tạo, hệ thống công nghiệp hiện hữu và vị trí địa lý thuận lợi cho kết nối với các thị trường Đông Bắc Á.
Đáng chú ý, tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam được dự thảo ước tính khoảng 1.068 GW.
Trên cơ sở các kịch bản về nhu cầu trong nước và xuất khẩu, báo cáo dự kiến quy mô thị trường hydrogen Việt Nam có thể đạt khoảng 100 tỷ USD vào năm 2035. Bốn nhóm lĩnh vực được xác định có vai trò quan trọng gồm công nghiệp, giao thông vận tải, sản xuất điện và xuất khẩu.
Trong công nghiệp, lọc hóa dầu và sản xuất phân bón được đánh giá có khả năng chuyển đổi sớm do đã có nhu cầu sử dụng hydrogen, trong khi thép được xem là lĩnh vực có nhu cầu hydrogen lớn trong dài hạn.
Từ tiềm năng đến dự án thương mại
Theo dự thảo báo cáo, hệ sinh thái hydrogen tại Việt Nam đang bắt đầu hình thành với sự tham gia của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, đối tác quốc tế và các tổ chức hỗ trợ trong nước.
![]() |
| Việt Nam hiện chưa có dự án hydrogen xanh lá hoặc xanh lam quy mô thương mại đi vào vận hành. (Ảnh minh họa) |
Bốn hành lang phát triển vùng bước đầu được nhận diện gồm Quảng Trị - Huế, Ninh Thuận - Bình Thuận, Trà Vinh - Bến Tre và Bà Rịa - Vũng Tàu, với những định hướng phát triển khác nhau dựa trên lợi thế về nguồn năng lượng, công nghiệp và hạ tầng hiện hữu.
Trong khi đó, thị trường hydrogen toàn cầu cũng đang bước vào giai đoạn có sự sàng lọc mạnh hơn. Dự thảo dẫn số liệu cho thấy quy mô thị trường hydrogen thế giới đạt khoảng 229,53 tỷ USD năm 2025 và được dự báo lên khoảng 406,95 tỷ USD vào năm 2034.
Theo đánh giá trong báo cáo, thị trường đang chuyển từ giai đoạn đặt nhiều kỳ vọng sang tập trung hơn vào khả năng thương mại hóa. Các dự án có hợp đồng bao tiêu rõ ràng, cấu trúc tài chính khả thi và khả năng kiểm soát rủi ro đang trở thành những yếu tố quan trọng để thu hút vốn.
Đây cũng là vấn đề đặt ra đối với Việt Nam. Dự thảo đã rà soát một số dự án và sáng kiến hydrogen đang được đề xuất, qua đó cho thấy phần lớn vẫn ở giai đoạn chuẩn bị và hoàn thiện các điều kiện đầu tư.
Thách thức vì vậy không hẳn nằm ở số lượng ý tưởng hay dự án, mà là khả năng đưa các dự án đạt đến mức độ sẵn sàng cần thiết về công nghệ, tài chính, thị trường đầu ra, cơ chế bao tiêu, thủ tục cấp phép và hạ tầng.
Nhiều điểm nghẽn cần được tháo gỡ
Một trong những trở ngại lớn được chỉ ra là chi phí năng lượng. Theo dự thảo, điện đầu vào hiện chiếm khoảng 60-70% chi phí sản xuất hydrogen quy dẫn bằng công nghệ điện phân. Điều này khiến giá thành hydrogen xanh phụ thuộc lớn vào khả năng tiếp cận nguồn điện tái tạo có chi phí cạnh tranh và ổn định.
Cùng với đó là tình trạng hạn chế về truyền tải tại một số khu vực có tiềm năng năng lượng tái tạo, trong khi hạ tầng chuyên dụng cho hydrogen vẫn chủ yếu ở quy mô thí điểm.
Về công nghệ, điện phân kiềm đã đạt mức thương mại hóa tương đối cao, nhưng nhiều công nghệ khác vẫn cần tiếp tục thử nghiệm và hoàn thiện. Năng lực sản xuất thiết bị trong nước cũng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của một thị trường quy mô lớn.
Khó khăn về tài chính và đầu ra cũng là vấn đề đáng chú ý. Theo khảo sát của Bộ Công Thương được dẫn trong dự thảo, hơn 58% doanh nghiệp đánh giá hydrogen có vai trò quan trọng, nhưng khoảng 68% chưa có hoạt động đáng kể trong lĩnh vực này. Nguyên nhân được chỉ ra gồm thiếu cơ chế bao tiêu, công cụ hỗ trợ giá và nguồn vốn dài hạn.
Ở góc độ thể chế, việc quản lý hydrogen liên quan đến nhiều lĩnh vực và cơ quan khác nhau. Theo dự thảo, thời gian xử lý thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư và cấp phép đối với một dự án hydrogen công nghiệp hiện có thể kéo dài 12-36 tháng.
Trên cơ sở nhận diện những vấn đề này, dự thảo báo cáo đề xuất 8 nhóm hành động ưu tiên. Các nhóm giải pháp tập trung vào hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng định nghĩa hydrogen sạch dựa trên cường độ carbon, áp dụng cơ chế cấp phép một cửa, tăng cường điều phối liên ngành, bổ sung công cụ tạo cầu, phát triển các công cụ tài chính và hệ thống chứng nhận xuất xứ.
Bên cạnh đó, báo cáo đề xuất triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, tập trung nguồn lực cho các dự án ưu tiên, phát triển hạ tầng dùng chung và thúc đẩy hợp tác quốc tế có chọn lọc.
Cần kết nối các bên để hình thành thị trường
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Đỗ Tiến Thịnh, Phó Giám đốc NIC, cho rằng quá trình chuyển từ định hướng chiến lược sang một thị trường hydrogen vận hành thực chất đòi hỏi sự phối hợp của nhiều bên.
![]() |
| Ông Đỗ Tiến Thịnh, Phó Giám đốc NIC phát biểu tại hội thảo. |
Theo ông, với vai trò hạt nhân kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, NIC mong muốn tạo không gian để cơ quan quản lý, doanh nghiệp, nhà đầu tư, viện nghiên cứu và trường đại học cùng đối thoại, cùng hành động, qua đó góp phần hình thành thị trường hydrogen sạch của Việt Nam. Ông kỳ vọng những đóng góp thẳng thắn, sát thực tiễn của các đại biểu sẽ giúp Báo cáo trở thành tài liệu tham khảo có giá trị.
Trong khi đó, ông Juhern Kim, Trưởng Đại diện quốc gia GGGI tại Việt Nam, cho rằng Việt Nam đã có định hướng tương đối rõ đối với hydrogen sạch, nhưng bước tiếp theo là xác định những cơ hội có tính khả thi cao và xây dựng tầm nhìn dài hạn về vị trí của Việt Nam trong nền kinh tế hydrogen toàn cầu.
Theo ông Kim, cần xác định rõ những lĩnh vực ưu tiên, những thị trường mà hydrogen sạch có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, cũng như các điều kiện để dự án có thể thu hút đầu tư ngay từ giai đoạn hiện nay.
Với sự hỗ trợ của Quỹ Tín thác Thỏa thuận Xanh Hàn Quốc (KGNDTF), GGGI và NIC đang phối hợp kết nối các bên liên quan trong các lĩnh vực chính sách, tài chính, công nghệ và công nghiệp nhằm đánh giá cơ hội phát triển hydrogen tại Việt Nam.
Các ý kiến đóng góp tại hội thảo sẽ được nhóm chuyên gia tổng hợp, tiếp tục hoàn thiện dự thảo Báo cáo “Thị trường Hydrogen sạch tại Việt Nam”, qua đó làm cơ sở tham khảo cho quá trình phát triển thị trường hydrogen sạch trong thời gian tới.
Huy Tùng
-
Thị trường hydrogen sạch Việt Nam: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ
-
Sơn La sắp có dự án điện mặt trời nổi 17.000 tỷ đồng, công suất 800 MW
-
Hydrogen xanh - Mảnh ghép cho bài toán Net Zero
-
Điện gió ngoài khơi mở không gian tăng trưởng xanh trên biển
-
Cần Thơ tính làm điện mặt trời tại hồ nước ngọt gần 1 triệu m³



