Công nghiệp chế biến thực phẩm:

Cơ hội còn bỏ ngỏ

07:26 | 21/05/2013

458 lượt xem
|
(Petrotimes) - Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm là ngành truyền thống lâu đời của nước ta. Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài ngành phát triển còn rất mờ nhạt, mặc dù có không ít lợi thế. Làm sao để phát huy tối đa sức mạnh của ngành, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu trong nước cũng như các tiêu chuẩn cao của thị trường nước ngoài vẫn luôn là điều mong mỏi của các doanh nghiệp.

Thị trường rộng mở

Trong 20 năm trở lại đây, ngành công nghiệp chế biến thực phẩm nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Hiện nay, đã có hàng trăm nhà máy chế biến thực phẩm quy mô lớn, đạt tiêu chuẩn quốc tế đã đi vào hoạt động trên cả nước. Vì thế, từng bước đáp ứng nhiều sản phẩm thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân, phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước, góp phần thay thế nhập khẩu và tham gia xuất khẩu với sự đa dạng về mẫu mã, chủng loại. Nhiều sản phẩm đã có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế, góp phần ổn định đời sống của nhân dân và tạo dựng được những nền tảng quan trọng cho nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Chế biến rau củ tại một doanh nghiệp ở Cần Thơ

Với dân số trên 86 triệu người, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình khoảng 7,5%/năm trong những năm qua, đây là một trong những điều kiện làm cho nhu cầu vật chất và tinh thần của mỗi người dân Việt Nam từng bước được nâng lên cả về số lượng và chất lượng, nhất là nhu cầu về thực phẩm sạch, các sản phẩm qua chế biến, thậm chí qua chế biến nhiều lần, đạt trình độ chế biến sâu, tinh tế. Hà Nội là một trong những thành phố có dân số vào loại cao nhất cả nước. Ước tính một năm thị trường này tiêu thụ khoảng 6.000 tấn thịt hơi các loại, sản lượng sữa tiêu thụ 250 nghìn tấn/năm và trứng gia cầm ước chừng khoảng 1.100 triệu quả. Có thể thấy, chính nhu cầu tiêu thị về thực phẩm này là cơ hội đẩy mạnh sự phát triển của các doanh nghiệp sản xuất và chế biến.

Ngoài cơ hội về thị trường trong nước, Việt Nam tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN và trở thành thành viên của WTO đã thúc đẩy xuất khẩu nói chung và xuất khẩu thực phẩm chế biến nói riêng. Quá trình hội nhập, mở cửa thị trường đã tác động rất lớn đến các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. Hiện Hàn Quốc, Nhật Bản là một trong những thị trường xuất khẩu thực phẩm lớn của Việt Nam.

Còn nhiều thách thức

Mặc dù nhiều cơ hội đang rộng mở, ngành chế biến thực phẩm đang rất tiềm năng, tuy nhiên đây cũng là một trong những ngành phải đối đầu với nhiều thử thách, vừa khách quan, vừa chủ quan.

Được đánh giá là ngành có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nhưng tại hầu hết các tỉnh, thành cả nước cũng như Hà Nội vẫn chưa hình thành được nhiều trung tâm chế biến thực phẩm lớn với những sản phẩm chất lượng, có sức cạnh tranh cao và đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), các sản phẩm hiện nay chủ yếu được sản xuất từ các cơ sở chế biến có quy mô nhỏ lẻ, với công nghệ lạc hậu nên sản phẩm sản xuất ra và cung cấp ra thị trường chưa có tính cạnh tranh, dẫn đến không thúc đẩy sự phát triển của ngành; đồng thời khó kiểm soát về chất lượng và VSATTP, nhất là giai đoạn hiện nay, nhiều dịch bệnh xuất hiện trong ngành chăn nuôi.

Ngoài ra, các doanh nghiệp chế biến thực phẩm hiện nay đều vì mục tiêu đạt lợi nhuận cao nên chỉ tập trung vào khâu cuối cùng mà không tập trung vào những khâu sơ chế, tạo nguồn nguyên liệu ban đầu. Chính vì vậy, quy trình sản xuất, chế biến thực phẩm của các doanh nghiệp không tạo ra giá trị gia tăng theo chuỗi, sản lượng sản xuất ra phụ thuộc vào các cơ sở sơ chế nhỏ lẻ, thiếu tập trung và không đảm bảo việc kiểm soát chất lượng cũng như VSATTP, điều này làm giảm uy tín doanh nghiệp với người tiêu dùng.

Cùng với đó, doanh nghiệp chế biến thường sử dụng những công nghệ thấp, một số phụ gia không đảm bảo chất lượng, cơ chế xử lý rác thải kém gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường và chất lượng thực phẩm chế biến đưa ra thị trường không được đảm bảo. Đấy là chưa kể đến tình hình thực phẩm lậu tràn lan không chỉ riêng thị trường Hà Nội mà còn ở nhiều thị trường lớn khác của cả nước đang làm đau đầu các nhà quản lý thị trường nội địa.

Trong khi đó, quy hoạch cũng như các chính sách của Nhà nước, đặc biệt là chính sách đầu tư, tài chính chưa khuyến khích phát triển nguyên liệu trong nước, việc phát triển các khu đô thị, khu vực kinh tế khác như công nghiệp, dịch vụ… đối với ngành chế biến thực phẩm vẫn chưa thực sự đồng bộ và còn một số hạn chế nên chưa kích thích cũng như hỗ trợ cho sự phát triển của ngành; chính sách quản lý thị trường nội địa cũng không rõ ràng, rành mạch, nhiều doanh nghiệp vẫn có những hiện tượng lách luật, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh.

Chính sách quản lý, quy hoạch đô thị cũng chưa đồng bộ, thiếu cân đối giữa các khu trung tâm chế biến thực phẩm với nguồn nguyên liệu, không đảm bảo về nguồn hàng cung cấp ra thị trường. Nhiều trường hợp xảy ra biến động giá cả đột ngột tùy vào từng thời điểm cụ thể, ít nhiều đã làm ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân. Trên thị trường vẫn tồn tại các khu chợ dân sinh mà sản phẩm chế biến cung cấp ra thị trường chủ yếu vẫn do các cơ sở sản xuất, chế biến nhỏ lẻ, các tiểu thương không phải chịu thuế, nên sản phẩm của các doanh nghiệp khó cạnh tranh về giá.

Mặt khác, một trong những nguyên nhân khách quan đang kìm hãm sự phát triển của ngành, đó là, do nước ta đã hội nhập với khu vực và thế giới nên sẽ không còn bảo hộ sản suất trong nước thông qua hệ thống thuế quan, điều này sẽ làm tăng áp lực cạnh tranh giữa hàng sản xuất trong nước với hàng nhập khẩu, nhất là nhập khẩu từ các nước ASEAN. Việt Nam gia nhập WTO thì phải thực thi quy chế không phân biệt, đối xử giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Do vậy, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, tiềm lực yếu thì khó có thể tồn tại trong một thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt.

Một tình trạng đang xảy ra phổ biến, hiện tại, hầu hết các doanh nghiệp chế biến thực phẩm có các thiết bị năng lượng như lò hơi, lò đốt, thiết bị lạnh, hệ thống chiếu sáng, các đường ống cấp thoát nước… thường lạc hậu, có hiệu suất thấp, gây thất thoát năng lượng. Hầu hết các doanh nghiệp không có chính sách năng lượng rõ ràng hoặc chưa triển khai hệ thống quản lý năng lượng. Các hoạt động truyền thông, tuyên truyền về tiết kiệm năng lượng chưa thực sự được doanh nghiệp quan tâm.

Nếu như không giải quyết vấn đề này kịp thời thì không chỉ gây ảnh hưởng lớn đến vấn đề tiết kiệm năng lượng mà góp phần đội chi phí sản xuất của doanh nghiệp lên cao, đồng nghĩa với việc tăng giá sản phẩm, giảm khả năng cạnh tranh.


Đức Minh

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 121,500 123,500
AVPL/SJC HCM 121,500 123,500
AVPL/SJC ĐN 121,500 123,500
Nguyên liệu 9999 - HN 10,950 11,050
Nguyên liệu 999 - HN 10,940 11,040
Cập nhật: 03/08/2025 15:00
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 117,000 119,500
Hà Nội - PNJ 117,000 119,500
Đà Nẵng - PNJ 117,000 119,500
Miền Tây - PNJ 117,000 119,500
Tây Nguyên - PNJ 117,000 119,500
Đông Nam Bộ - PNJ 117,000 119,500
Cập nhật: 03/08/2025 15:00
AJC Mua vào Bán ra
Trang sức 99.99 11,420 11,870
Trang sức 99.9 11,410 11,860
NL 99.99 10,880
Nhẫn tròn ko ép vỉ T.Bình 10,880
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 11,630 11,930
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 11,630 11,930
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 11,630 11,930
Miếng SJC Thái Bình 12,150 12,350
Miếng SJC Nghệ An 12,150 12,350
Miếng SJC Hà Nội 12,150 12,350
Cập nhật: 03/08/2025 15:00
SJC Mua vào Bán ra
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,215 12,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,215 12,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,165 119
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,165 1,191
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,165 1,184
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 112,728 117,228
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 82,059 88,959
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 7,377 8,067
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 65,481 72,381
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 62,284 69,184
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 42,628 49,528
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Cập nhật: 03/08/2025 15:00

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 16438 16706 17293
CAD 18468 18745 19371
CHF 31936 32317 32976
CNY 0 3570 3690
EUR 29720 29992 31034
GBP 33990 34380 35325
HKD 0 3207 3410
JPY 171 175 181
KRW 0 17 19
NZD 0 15192 15780
SGD 19789 20071 20602
THB 722 785 839
USD (1,2) 25937 0 0
USD (5,10,20) 25977 0 0
USD (50,100) 26006 26040 26390
Cập nhật: 03/08/2025 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,030 26,030 26,390
USD(1-2-5) 24,989 - -
USD(10-20) 24,989 - -
GBP 34,203 34,295 35,157
HKD 3,280 3,290 3,389
CHF 31,851 31,950 32,748
JPY 170.97 171.28 178.49
THB 761.95 771.36 825.2
AUD 16,596 16,656 17,122
CAD 18,599 18,659 19,193
SGD 19,825 19,886 20,550
SEK - 2,635 2,726
LAK - 0.92 1.28
DKK - 3,950 4,085
NOK - 2,496 2,583
CNY - 3,588 3,685
RUB - - -
NZD 15,074 15,214 15,654
KRW 17.24 17.98 19.41
EUR 29,551 29,574 30,762
TWD 790.05 - 956.39
MYR 5,727.8 - 6,459.09
SAR - 6,870.41 7,230.69
KWD - 83,348 88,641
XAU - - -
Cập nhật: 03/08/2025 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,010 26,020 26,360
EUR 29,331 29,449 30,567
GBP 33,972 34,108 35,089
HKD 3,271 3,284 3,390
CHF 31,642 31,769 32,662
JPY 169.85 170.53 177.65
AUD 16,523 16,589 17,127
SGD 19,838 19,918 20,457
THB 778 781 816
CAD 18,581 18,656 19,174
NZD 15,174 15,678
KRW 17.96 19.68
Cập nhật: 03/08/2025 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26030 26030 26390
AUD 16479 16579 17150
CAD 18536 18636 19187
CHF 31716 31746 32632
CNY 0 3599.3 0
CZK 0 1190 0
DKK 0 4100 0
EUR 29550 29650 30423
GBP 33977 34027 35137
HKD 0 3330 0
JPY 170.65 171.65 178.2
KHR 0 6.347 0
KRW 0 18.6 0
LAK 0 1.155 0
MYR 0 6400 0
NOK 0 2575 0
NZD 0 15164 0
PHP 0 430 0
SEK 0 2735 0
SGD 19794 19924 20656
THB 0 742.1 0
TWD 0 885 0
XAU 11800000 11800000 12200000
XBJ 10600000 10600000 12200000
Cập nhật: 03/08/2025 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,030 26,080 26,335
USD20 26,030 26,080 26,335
USD1 26,030 26,080 26,335
AUD 16,518 16,668 17,736
EUR 29,573 29,723 30,901
CAD 18,482 18,582 19,897
SGD 19,874 20,024 20,589
JPY 171.12 172.62 177.27
GBP 34,035 34,185 35,515
XAU 11,988,000 0 12,142,000
CNY 0 3,483 0
THB 0 778 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2025 15:00