Cần quan tâm đến các doanh nghiệp đang yếu đi

17:15 | 10/05/2013

|
(Petrotimes) - Theo các chuyên gia kinh tế, vấn đề đáng quan tâm hiện nay ngoài hiện tượng giải thể, ngưng hoạt động của doanh nghiệp (DN) còn là hiện tượng các doanh nghiệp đang “yếu đi”.

Doanh nghiệp đang yếu đi

Trong buổi làm việc của Đoàn Đại biểu Quốc hội TP HCM  với các DN trên địa bàn, nhiều DN cho rằng tình hình sản xuất, kinh doanh của DN đang khó khăn hơn và xuất hiện hiện tượng mới là những DN vẫn còn tồn tại nhưng đang yếu dần.

 Ông Phạm Ngọc Hưng - Phó Chủ tịch Hiệp hội DN TP HCM cho biết: Tình hình DN ngưng hoạt động và giải thể vẫn còn nhiều, số DN ngưng hoạt động, giải thể tương đương với số đăng kí mới. Đây là hiện tượng không tốt của tình hình kinh tế nhưng là vấn đề cũ đã xảy ra từ năm 2011 đến nay. Đáng quan tâm là hiện tượng nhiều DN tồn tại bị yếu đi.

DN có biểu hiện yếu đi thể hiện qua những báo cáo của Cục thuế TP HCM: thuế VAT của thành phố liên tục âm; có từ 70 - 80% DN báo cáo thuế lỗ.

Trong tháng 3 và 4 vừa qua, nhiều DN tiến hành đại hội cổ đông nhưng nhiều DN không thông báo chia cổ tức, thậm chí trong kế hoạch cũng không thấy đăng kí chia cổ tức. Các nhà đầu tư cũng không dám bỏ vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán… Đó là những vấn đề cần quan tâm tìm giải pháp khắc phục chứ không chỉ tính trên số DN giải thể để nói về khó khăn của DN.

Đoàn Đại biểu Quốc hội TP HCM làm việc với các doanh nghiệp

Ông Huỳnh Văn Minh - Chủ tịch Hiệp hội DN TP HCM cho rằng: “Vấn đề đáng lo ngại là nếu chúng ta không tìm ra những giải pháp kịp thời, những DN đang yếu đi sẽ có nguy cơ phải “xin chết”. Một số cơ quan chức năng cho rằng kinh tế có xu hướng sáng sủa hơn nhưng sáng ở đâu chứ tôi thấy DN không sáng chút nào”.

Bên cạnh đó, điều quan trọng hiện nay là nhiều DN đang mất niềm tin vào thị trường nên khó khăn của DN vẫn chưa có điểm dừng.

Theo ông Trương Phú Cường - Chủ tịch Hiệp hội Xây dựng và Vật liệu Xây dựng TP HCM, lâu nay khi nói đến khó khăn của DN chúng ta thường nói những khó khăn như: bất động sản đóng băng, nợ xấu tăng, hàng tồn kho nhiều, lãi suất ngân hàng còn cao… Tuy nhiên, thách thức và khó khăn thực sự chúng ta đang đối mặt là niềm tin của DN và các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam hiện nay rất thấp cho dù chỉ số lạm phát đã giảm.

Cụ thể: sức mua của thị trường giảm rất nhiều, sức mua siêu thị giảm 20%, các cửa hàng ăn uống giảm tới 30 - 40%... Vì vậy, trong việc giải cứu DN cần phải xây dựng lại niềm tin và hy vọng vào thị trường của DN.  

Giải pháp cứu DN

Theo các DN, khó khăn về vốn vẫn đeo bám họ trong suốt một thời gian dài bởi mặt bằng lãi suất đã giảm xuống nhưng rào cản thế chấp khiến DN không tiếp cận được vốn. Một số DN có nhu cầu tiếp tục vay vốn nhưng hết tài sản thế chấp.

Tình hình kinh tế vẫn tiếp tục khó khăn, thậm chí khó khăn hơn cả năm 2012: DN vẫn đang thiếu vốn, tồn kho, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp…

Trước thắc mắc của DN về vấn đề vốn, ông Nguyễn Hoàng Minh – Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh TP HCM cho biết: Vừa qua, NHNN đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại kéo giảm lãi suất cho vay và dành 102 ngàn tỷ cho 5 nhóm ưu tiên cho vay với lãi suất dưới 11% (thực tế ngân hàng chỉ cho vay với lãi suất 8 - 10%). NHNN đã mở rộng các đối tượng cho vay ưu đãi. Đối với những khách hàng truyền thống và uy tín thì tăng cường cho vay tín chấp; không phân biệt giữa các thành phần kinh tế trong cho vay vốn.

 Ngoài ra, hiện nay các DN đang trông chờ Nghị quyết 02 của Chính phủ có thể đi vào thực tiễn để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển. Bởi sau khi Nghị quyết 02 ra đời các cơ quan chức năng bàn tới bàn lui đến thời điểm này chưa đâu vào đâu dù đã 5 tháng.

Điều đó cho thấy Nghị quyết 02 bị vô hiệu trong vòng 4 tháng nay. Các DN đang mong chờ các bộ ngành sớm thực hiện Nghị quyết này để DN có phần thuận lợi hơn trong sản xuất và kinh doanh.

Không chỉ chờ đợi vào việc thực hiện Nghị quyết 02, hầu hết DN mong muốn Chính phủ có các giải pháp đồng bộ để giải cứu nền kinh tế như: giảm thuế thu nhập DN, giảm thuế VAT để kích cầu tiêu dùng, khơi thông đầu ra và đảm bảo ổn định trong việc điều hành kinh tế vĩ mô.

 

Mai Phương

  • bidv-65-nam
  • sao-thai-duong
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN lẻ 69,000 ▼50K 69,800
AVPL/SJC HN buôn 69,000 ▼50K 69,800
AVPL/SJC HCM lẻ 69,000 ▼50K 69,800
AVPL/SJC HCM buôn 69,000 ▼50K 69,800
AVPL/SJC ĐN lẻ 69,000 ▼50K 69,800
AVPL/SJC ĐN buôn 69,000 ▼50K 69,800
Nguyên liêu 9999 - HN 54,100 ▼150K 54,350 ▼100K
Nguyên liêu 999 - HN 54,050 ▼150K 54,300 ▼100K
AVPL/SJC CT lẻ 69,000 ▼50K 69,800
AVPL/SJC CT buôn 69,000 ▼50K 69,800
Cập nhật: 24/05/2022 13:01
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - Bóng đổi 9999 0 0
TPHCM - PNJ 54.300 ▼100K 55.400 ▼100K
TPHCM - SJC 68.900 69.900
Hà Nội - PNJ 54.300 ▼100K 55.400 ▼100K
Hà Nội - SJC 69.000 ▲100K 69.900
Đà Nẵng - PNJ 54.300 ▼100K 55.400 ▼100K
Đà Nẵng - SJC 68.900 69.900
Cần Thơ - PNJ 54.300 ▼100K 55.400 ▼100K
Cần Thơ - SJC 69.200 ▼50K 69.900 ▼50K
Giá vàng nữ trang - Nhẫn PNJ (24K) 54.300 ▼100K 55.300 ▼100K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 53.700 ▼100K 54.500 ▼100K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 39.630 ▼70K 41.030 ▼70K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 30.630 ▼60K 32.030 ▼60K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 21.420 ▼40K 22.820 ▼40K
Cập nhật: 24/05/2022 13:01
AJC Mua vào Bán ra
Đồng vàng 99.99 5,430 ▼10K 5,510 ▼10K
Vàng trang sức 99.99 5,345 ▼10K 5,495 ▼10K
Vàng trang sức 99.9 5,335 ▼10K 5,485 ▼10K
Vàng NL 99.99 5,400 ▼10K 5,495 ▼10K
Vàng miếng SJC Thái Bình 6,900 ▼15K 6,990
Vàng miếng SJC Nghệ An 6,900 6,990
Vàng miếng SJC Hà Nội 6,910 ▼10K 6,985 ▼5K
Vàng NT, TT 3A Thái Bình 5,440 5,530
Vàng NT, TT 3A Nghệ An 5,440 5,540
Vàng NT, TT 3A Hà Nội 5,430 ▼10K 5,510 ▼10K
Cập nhật: 24/05/2022 13:01
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 69,000 ▼50K 69,900 ▼50K
SJC 5c 69,000 ▼50K 69,920 ▼50K
SJC 2c, 1C, 5 phân 69,000 ▼50K 69,930 ▼50K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 54,350 ▼100K 55,300 ▼100K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 54,350 ▼100K 55,400 ▼100K
Nữ Trang 99.99% 54,100 ▼100K 54,900 ▼100K
Nữ Trang 99% 53,056 ▼99K 54,356 ▼99K
Nữ Trang 68% 35,486 ▼68K 37,486 ▼68K
Nữ Trang 41.7% 21,046 ▼41K 23,046 ▼41K
Cập nhật: 24/05/2022 13:01

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,988.74 16,150.24 16,670.87
CAD 17,645.01 17,823.24 18,397.79
CHF 23,377.58 23,613.72 24,374.94
CNY 3,409.30 3,443.74 3,555.29
DKK - 3,263.55 3,389.03
EUR 24,098.32 24,341.74 25,448.24
GBP 28,369.96 28,656.53 29,580.31
HKD 2,878.57 2,907.64 3,001.37
INR - 298.29 310.26
JPY 176.56 178.34 186.92
KRW 15.86 17.62 19.33
KWD - 75,600.92 78,635.16
MYR - 5,226.90 5,341.70
NOK - 2,359.61 2,460.16
RUB - 362.13 490.79
SAR - 6,163.36 6,410.73
SEK - 2,308.01 2,406.36
SGD 16,433.51 16,599.51 17,134.61
THB 598.48 664.97 690.54
USD 23,015.00 23,045.00 23,325.00
Cập nhật: 24/05/2022 13:01
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 16,169 16,269 16,819
CAD 17,854 17,954 18,504
CHF 23,534 23,639 24,439
CNY - 3,441 3,551
DKK - 3,274 3,404
EUR #24,323 24,348 25,458
GBP 28,738 28,788 29,748
HKD 2,879 2,894 3,029
JPY 178.28 178.28 186.83
KRW 16.54 17.34 20.14
LAK - 1.05 2
NOK - 2,364 2,444
NZD 14,706 14,789 15,076
SEK - 2,304 2,414
SGD 16,420 16,520 17,120
THB 625.27 669.61 693.27
USD #23,030 23,050 23,330
Cập nhật: 24/05/2022 13:01
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 23,035 23,035 23,315
USD(1-2-5) 22,818 - -
USD(10-20) 22,989 - -
GBP 28,484 28,655 29,716
HKD 2,891 2,911 2,994
CHF 23,469 23,611 24,387
JPY 177.27 178.34 186.39
THB 640.78 647.25 706.66
AUD 16,034 16,131 16,666
CAD 17,710 17,817 18,380
SGD 16,469 16,569 17,117
SEK - 2,317 2,394
LAK - 1.47 1.82
DKK - 3,271 3,378
NOK - 2,370 2,448
CNY - 3,428 3,542
RUB - 345 483
NZD 14,651 14,739 15,093
KRW 16.41 18.13 19.22
EUR 24,262 24,328 25,392
TWD 707.4 - 803.91
MYR 4,932.76 - 5,415.62
Cập nhật: 24/05/2022 13:01
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 23,010.00 23,030.00 23,310.00
EUR 24,302.00 24,330.00 25,175.00
GBP 28,578.00 28,751.00 29,425.00
HKD 2,894.00 2,906.00 2,996.00
CHF 23,545.00 23,640.00 24,281.00
JPY 178.47 179.19 183.35
AUD 16,036.00 16,100.00 16,678.00
SGD 16,576.00 16,643.00 17,028.00
THB 655.00 658.00 697.00
CAD 17,805.00 17,877.00 18,306.00
NZD 0.00 14,657.00 15,149.00
KRW 0.00 17.52 19.18
Cập nhật: 24/05/2022 13:01
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 23.032 23.052 23.600
AUD 16.116 16.216 16.821
CAD 17.714 17.914 18.519
CHF 23.680 23.780 24.394
EUR 24.332 24.432 25.196
GBP 28.777 28.827 29.484
JPY 178,9 179,9 186,44
SGD 16.650 16.750 17.063
Cập nhật: 24/05/2022 13:01
  • nhien-lieu-bay-cong-nghe-nang-luong-2021
  • pvgas