Cần “cởi trói” cho dịch vụ dầu khí

06:30 | 03/10/2018

2,061 lượt xem
|
(PetroTimes) - Những bất cập trong Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư công, Luật Dầu khí… đã và đang khiến doanh nghiệp dịch vụ dầu khí trong nước như “võ sĩ thi đấu bị trói chân, trói tay, thua ngay trên chính sân nhà”.  
can coi troi cho dich vu dau khi Bao giờ có "sân chơi" công bằng
can coi troi cho dich vu dau khi Không thể thua trên chính sân nhà

Những “nút thắt” vô lý

Hoạt động dịch vụ dầu khí trong những năm gần đây gặp nhiều khó khăn do khối lượng công việc và giá dịch vụ giảm, việc phát triển dịch vụ ra nước ngoài khó khăn hơn bởi sự bảo hộ ngày càng gia tăng ở các nước sở tại và sự cạnh tranh quyết liệt của các công ty đa quốc gia.

Trong nước, gần đây chính sách, pháp luật có nhiều thay đổi, trong khi các quy định cần thiết của pháp luật chuyên ngành dầu khí chưa đáp ứng và chưa có những điều chỉnh phù hợp với thực tế sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (DN). Đặc biệt, kể từ khi Luật Đấu thầu 2013 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2014, các DN dịch vụ dầu khí phải đối mặt với sự cạnh tranh gắt gao hơn từ các DN thuộc các thành phần kinh tế khác không phải là “dân dầu khí chuyên nghiệp” ngay chính tại “sân nhà”.

can coi troi cho dich vu dau khi
Người lao động PV SHIPYARD

Bất cập của Luật Đấu thầu đã khiến nhiều công ty thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) mất hoàn toàn cơ hội tham gia cung cấp dịch vụ trên chính lĩnh vực, ngành nghề, thị trường truyền thống và là thế mạnh của chính mình. Tổng Công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) dẫn ví dụ: Đã có chủ đầu tư nêu lý do là có một đơn vị thiết kế khác có 29% vốn của PVN thực hiện tư vấn ở giai đoạn trước của gói thầu, nên các công ty khác trong PVN dù có đủ năng lực thực hiện gói thầu cũng không được tham gia đầu thầu vì không đáp ứng điều kiện theo quy định của Luật Đấu thầu. Vì vậy, PTSC đã bị loại khỏi danh sách nhà thầu tham dự đấu thầu. Mặc dù năng lực cung cấp dịch vụ của PTSC có thể nói là tốt nhất trên thị trường dịch vụ kỹ thuật dầu khí trong nước hiện nay.

Đây là một thực tế bất hợp lý, làm tăng nguy cơ xâm nhập sâu vào thị trường của các nhà thầu ngoài ngành, thậm chí tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà thầu nước ngoài tham gia vào quy trình sản xuất, dịch vụ truyền thống xuyên suốt từ khâu đầu đến khâu cuối của PVN trong nhiều năm qua.

Không những vậy, nhiều chính sách cũng cho thấy sự bất hợp lý khi “ưu đãi” hơn đối với các DN dầu khí nước ngoài so với các DN dầu khí trong nước.

Trong buổi làm việc với Ủy ban Kinh tế của Quốc hội vào giữa tháng 9 vừa qua, ông Đỗ Văn Khạnh - Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty CP Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí (PV Drilling) - bày tỏ: Thật vô lý khi các DN dầu khí nước ngoài vào tham gia đấu thầu các hợp đồng dầu khí chỉ phải nộp các loại thuế ở mức 5%, chỉ bằng một nửa số thuế mà các DN dầu khí Việt Nam phải nộp.

Đây cũng là thực tế rất bất hợp lý mà PTSC cũng như các DN dịch vụ dầu khí trong nước đang phải gánh chịu. Cũng tại buổi làm việc với Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, đại diện PTSC cho biết, các nhà thầu nước ngoài khi vào Việt Nam cung cấp dịch vụ chịu thuế nhà thầu, thuế giá trị gia tăng trên hàng hóa dịch vụ theo quy định chỉ 2-5%. Trong khi đó, thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ tương tự của nhà thầu trong nước tới 10%. Điều này dẫn đến sự bất lợi trong cạnh tranh về giá của nhà thầu trong nước với nhà thầu nước ngoài khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng.

Ngoài ra, các DN dịch vụ dầu khí trong nước cũng gặp vướng mắc trong quá trình thực thi bởi sự không rõ ràng trong các quy định của pháp luật. Cụ thể, đến nay Chính phủ chưa có hướng dẫn về các gói thầu dịch vụ duy nhất trên thị trường; chưa có định nghĩa rõ ràng về dịch vụ dầu khí liên quan trực tiếp đến hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí; chưa quy định hoặc không quy định rõ ràng, thiếu căn cứ áp dụng cho lĩnh vực đặc thù…

Cần bảo vệ doanh nghiệp trong nước

Trong bối cảnh thị trường dịch vụ dầu khí đang rất khó khăn, công việc khan hiếm, cạnh tranh gay gắt thì chính sách bảo hộ DN dịch vụ dầu khí trong nước ở các quốc gia trong khu vực ngày càng gia tăng. Để có thể tham gia đấu thầu và cung cấp dịch vụ ở các nước, các nhà thầu dầu khí ở Việt Nam phải thực hiện rất nhiều thủ tục phức tạp, phải thông qua các thầu phụ ở nước sở tại, nội địa hóa tài sản cung cấp dịch vụ và phải sử dụng dịch vụ nội địa với một tỷ lệ nhất định, điển hình là tại Malaysia và Indonesia, thậm chí nhiều dịch vụ chỉ được sử dụng của nhà cung cấp dịch vụ sở tại.

can coi troi cho dich vu dau khi
Người lao động PVC

Cụ thể, khi giá dầu sụt giảm thì các nước như Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Brunei… đều có những chính sách bảo hộ DN trong nước. Các DN nước ngoài dù trúng thầu cũng chỉ có thể tham gia tối đa 25% khối lượng công việc, còn lại phải sử dụng nhân lực vật lực của nước sở tại.

Như vậy, việc bảo hộ DN trong nước, không phải là điều xa lạ, thậm chí còn phổ biến tại tất cả các quốc gia có ngành công nghiệp dầu khí.

Trong khi đó, Việt Nam hiện không có chính sách bảo hộ cụ thể cho các DN dịch vụ dầu khí trong nước như các nước trong khu vực, nên DN trong nước phải cạnh tranh khốc liệt với DN nước ngoài trên sân nhà.

Tổng Công ty Tư vấn Thiết kế Dầu khí - CTCP (PVE) dẫn chứng: Theo Luật Đấu thầu 2013, công ty có 100% vốn nước ngoài được thành lập và đăng ký kinh doanh tại Việt Nam cũng được xem là nhà thầu trong nước (như Technip, Toyo…) và có thể tham gia đấu thầu trong nước, hưởng toàn bộ ưu đãi như công ty trong nước có 100% vốn trong nước. Do đó, các công ty có vốn sở hữu nước ngoài với sự hậu thuẫn mạnh về tiềm lực tài chính, phương pháp sản xuất, nguồn nhân sự từ công ty hay tập đoàn mẹ, sử dụng lý lịch của chuyên gia đang hoạt động trong tập đoàn đa quốc gia của họ để nâng cao điểm kỹ thuật và trúng thầu, khiến các DN trong nước không thể nào cạnh tranh nổi.

Trong khi đó, để bảo hộ DN trong nước, Chính phủ Malaysia quy định nhà thầu trong nước là tổ chức được thành lập tại Malaysia và có vốn chủ sở hữu từ trong nước (công dân Malaysia ) tối thiểu 70%. Do đó, nhiều công ty nước ngoài dù được thành lập tại Malaysia nhưng vẫn bị hạn chế tham gia đấu thầu trong nước.

Rất nhiều bất hợp lý trong thời gian qua đã “trói chân, trói tay” khiến các DN dầu khí trong nước không phát triển được. Các DN dịch vụ dầu khí trong nước mong muốn Chính phủ, các bộ, ngành liên quan tạo cơ chế rõ ràng về hành lang pháp lý của hoạt động dầu khí; điều chỉnh các bất cập trong Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư công, Luật Dầu khí; có các biện pháp bảo hộ nhất định, để bảo hộ DN dịch vụ ngành dầu khí, bảo vệ ngành dịch vụ đặc thù quan trọng của DN trong nước, tạo các điều kiện cạnh tranh tối đa cho các DN trong nước để nhận được hợp đồng, tạo công ăn việc làm cho người lao động trong nước.

Các nhà thầu nước ngoài khi vào Việt Nam cung cấp dịch vụ chịu thuế nhà thầu, thuế giá trị gia tăng trên hàng hóa dịch vụ theo quy định chỉ 2-5%. Trong khi đó, thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ tương tự của nhà thầu trong nước tới 10%.

M.Phương

  • bidv-tiet-kiem-mua-vang-ron-rang-tai-loc
  • top-right-banner-chuyen-muc-pvps
  • nang-luong-cho-phat-trien
  • pvoil-duong-xa-them-gan
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 72,800 74,100
AVPL/SJC HCM 73,000 74,000
AVPL/SJC ĐN 72,800 74,100
Nguyên liệu 9999 - HN 60,600 61,100
Nguyên liệu 999 - HN 60,500 60,900
AVPL/SJC Cần Thơ 72,800 74,100
Cập nhật: 11/12/2023 00:02
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 60.700 61.800
TPHCM - SJC 73.000 74.100
Hà Nội - PNJ 60.700 61.800
Hà Nội - SJC 73.000 74.100
Đà Nẵng - PNJ 60.700 61.800
Đà Nẵng - SJC 73.000 74.100
Miền Tây - PNJ 60.700 61.800
Miền Tây - SJC 72.700 74.000
Giá vàng nữ trang - Nhẫn PNJ (24K) 60.700 61.700
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 60.600 61.400
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 44.800 46.200
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 34.670 36.070
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 24.290 25.690
Cập nhật: 11/12/2023 00:02
AJC Mua vào Bán ra
TT, 3A, NT Nghệ An 6,100 6,210
Trang sức 99.99 6,045 6,190
Trang sức 99.9 6,035 6,180
SJC Thái Bình 7,280 7,390
NT, ĐV, 3A Hà Nội 6,100 6,210
NT, 3A, ĐV Thái Bình 6,100 6,210
NL 99.99 6,060
Nhẫn tròn ko ép vỉ TB 6,060
Miếng SJC Nghệ An 7,280 7,390
Miếng SJC Hà Nội 7,280 7,390
Cập nhật: 11/12/2023 00:02
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L, 1KG 72,800 74,000
SJC 5c 72,800 74,020
SJC 2c, 1C, 5 phân 72,800 74,030
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 60,700 61,750
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.3 chỉ, 0.5 chỉ 60,700 61,850
Nữ Trang 99.99% 60,600 61,450
Nữ Trang 99% 59,542 60,842
Nữ Trang 68% 39,940 41,940
Nữ Trang 41.7% 23,777 25,777
Cập nhật: 11/12/2023 00:02

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 15,589.25 15,746.72 16,253.14
CAD 17,378.84 17,554.38 18,118.93
CHF 27,000.62 27,273.35 28,150.47
CNY 3,312.45 3,345.91 3,454.04
DKK - 3,440.35 3,572.36
EUR 25,455.84 25,712.97 26,853.68
GBP 29,658.76 29,958.34 30,921.80
HKD 3,022.31 3,052.84 3,151.02
INR - 289.69 301.30
JPY 163.54 165.19 173.11
KRW 16.01 17.78 19.40
KWD - 78,414.60 81,555.75
MYR - 5,139.51 5,252.01
NOK - 2,183.56 2,276.44
RUB - 250.95 277.82
SAR - 6,439.42 6,697.37
SEK - 2,282.07 2,379.14
SGD 17,639.89 17,818.07 18,391.10
THB 605.57 672.86 698.68
USD 24,020.00 24,050.00 24,390.00
Cập nhật: 11/12/2023 00:02
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 15,612 15,632 16,232
CAD 17,513 17,523 18,223
CHF 27,011 27,031 27,981
CNY - 3,310 3,450
DKK - 3,407 3,577
EUR #25,208 25,218 26,508
GBP 29,831 29,841 31,011
HKD 2,972 2,982 3,177
JPY 162.9 163.05 172.6
KRW 16.18 16.38 20.18
LAK - 0.67 1.37
NOK - 2,140 2,260
NZD 14,566 14,576 15,156
SEK - 2,239 2,374
SGD 17,486 17,496 18,296
THB 628.68 668.68 696.68
USD #23,970 24,010 24,430
Cập nhật: 11/12/2023 00:02
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 24,080 24,080 24,380
USD(1-2-5) 23,861 - -
USD(10-20) 23,861 - -
GBP 29,798 29,978 30,925
HKD 3,037 3,058 3,146
CHF 27,108 27,272 28,126
JPY 163.98 164.97 172.64
THB 657 663.63 708.75
AUD 15,697 15,792 16,237
CAD 17,477 17,582 18,113
SGD 17,737 17,844 18,352
SEK - 2,292 2,368
LAK - 0.89 1.24
DKK - 3,449 3,563
NOK - 2,194 2,267
CNY - 3,349 3,439
RUB - 238 306
NZD 14,637 14,725 15,128
KRW 16.23 - 19.25
EUR 25,652 25,721 26,833
TWD 698.23 - 843.52
MYR 4,859.33 - 5,473.07
SAR - 6,356.4 6,680.67
Cập nhật: 11/12/2023 00:02
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 24,040.00 24,070.00 24,390.00
EUR 25,664.00 25,767.00 26,561.00
GBP 29,932.00 30,113.00 30,903.00
HKD 3,039.00 3,051.00 3,152.00
CHF 27,208.00 27,317.00 28,062.00
JPY 165.69 166.36 170.93
AUD 15,699.00 15,762.00 16,228.00
SGD 17,855.00 17,927.00 18,329.00
THB 670.00 673.00 705.00
CAD 17,577.00 17,648.00 18,041.00
NZD 14,690.00 15,178.00
KRW 17.73 19.40
Cập nhật: 11/12/2023 00:02
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 24010 24060 24370
AUD 15791 15841 16250
CAD 17622 17672 18085
CHF 27456 27506 27930
CNY 0 3344.9 0
CZK 0 980 0
DKK 0 3406 0
EUR 25834 25884 26504
GBP 30203 30253 30725
HKD 0 3000 0
JPY 165.4 165.9 171.98
KHR 0 5.6713 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.0149 0
MYR 0 5100 0
NOK 0 2190 0
NZD 0 14675 0
PHP 0 324 0
SEK 0 2180 0
SGD 17878 17928 18346
THB 0 645.3 0
TWD 0 708 0
XAU 7330000 7330000 7400000
XBJ 5500000 5500000 5700000
Cập nhật: 11/12/2023 00:02