Tỷ lệ tổn thất điện năng của Việt Nam đã sát với ngưỡng kỹ thuật

15:15 | 25/03/2020

|
Ðó là khẳng định của ông Lê Việt Hùng, Phó Trưởng ban Kỹ thuật - Sản xuất EVN khi trao đổi với báo chí xoay quanh chủ đề giảm tỷ lệ tổn thất điện năng của Việt Nam.
ty le ton that dien nang cua viet nam da sat voi nguong ky thuat
Ông Lê Việt Hùng, Phó Trưởng ban Kỹ thuật - Sản xuất EVN.

PV: Xin ông cho biết, thời gian qua, EVN đã triển khai những giải pháp đột phá nào để giảm tỷ lệ tổn thất điện năng (TTÐN)?

Ông Lê Việt Hùng: Những năm qua, các đơn vị trong Tập đoàn đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và thực hiện có hiệu quả công tác giảm TTÐN.

Cách thức tổ chức, quản lý TTÐN đã đi vào nề nếp và khá bài bản. Giải pháp giảm TTÐN ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới bao gồm các giải pháp về quản lý vận hành, quản lý kinh doanh, đầu tư cải tạo lưới điện...

Theo tôi, quan trọng nhất là tinh thần chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo Tập đoàn và các đơn vị. Các đơn vị đã thực hiện giải pháp phù hợp, hiệu quả cho từng khu vực và phát huy được ý thức, trách nhiệm của mỗi người lao động trong công tác này.

Kết quả, TTÐN năm 2018 của EVN là 7,04%, năm 2019 là 6,5%.

PV: EVN đã về đích trước một năm trong việc thực hiện giảm TTÐN. Vậy xin ông cho biết mục tiêu tiếp theo trong việc thực hiện nhiệm vụ này như thế nào?

Ông Lê Việt Hùng: Mục tiêu kế hoạch 2016 - 2020, TTÐN sẽ giảm xuống 6,5%, trong đó, lưới điện truyền tải giảm xuống 2,15%; lưới điện phân phối giảm xuống khoảng 4,35%.

Năm 2019, Tập đoàn đã hoàn thành mục tiêu này (vượt trước 1 năm so với kế hoạch). Ðến nay, TTÐN của Tập đoàn đã giảm đến mức thấp, nếu muốn tiếp tục giảm TTÐN, sẽ phải đầu tư cải tạo hệ thống lưới điện và phải cân nhắc đến hiệu quả của dự án và khả năng thu hồi vốn đầu tư. Tôi hoàn toàn nhất trí với phát biểu của GS. Viện sĩ Trần Ðình Long, Phó Chủ tịch Hội Ðiện lực Việt Nam: “Chúng ta không giảm TTÐN bằng mọi giá mà phải cân đối, dựa trên cơ sở hiệu quả đầu tư và khả năng cung cấp điện ổn định trên lưới”.

Về các giải pháp liên quan đến quản lý vận hành, quản lý kinh doanh, tôi tin rằng, các công ty điện lực, các công ty truyền tải, các đơn vị trong EVN đã và sẽ nỗ lực cao nhất trong vận hành hợp lý hệ thống điện, nhằm góp phần giảm TTÐN.

Trở ngại lớn nhất có lẽ là vấn đề đầu tư. Chúng ta thực hiện đầu tư phát triển hệ thống điện theo Quy hoạch đã được Chính phủ phê duyệt. Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện Quy hoạch, nhiều công trình điện đã bị chậm tiến độ do thiếu vốn, chậm giải phóng mặt bằng, đơn vị thi công không đảm bảo đúng tiến độ cam kết. Lưới điện không theo kịp tăng trưởng phụ tải dẫn đến đầy, quá tải đường dây, TBA,..., TTÐN của các đơn vị sẽ tăng. Ðặc biệt, nếu lưới điện truyền tải không giảm được về 2,15% sẽ là khó khăn lớn trong thực hiện mục tiêu giảm TTÐN chung.

ty le ton that dien nang cua viet nam da sat voi nguong ky thuat
Tổng công ty Điện lực TP.HCM đã ứng dụng nhiều thành tựu khoa học công nghệ trong quản lý vận hành lưới điện góp phần giảm TTĐN.

PV: Thưa ông, bên cạnh sự nỗ lực chung của toàn Tập đoàn, tại một số đơn vị, tỷ lệ TTÐN còn cao so với kế hoạch. Tập đoàn có cơ chế thưởng, phạt như thế nào liên quan đến tỷ lệ TTÐN? 

Ông Lê Việt Hùng: EVN giao chỉ tiêu TTÐN kế hoạch cho các đơn vị từ đầu năm. Thực tế, TTÐN đã giảm thấp sát ngưỡng kỹ thuật, nên các biến động về nguồn, tải so với dự báo hay chậm tiến độ công trình đều ảnh hưởng đến kết quả giảm TTÐN của đơn vị. Hiện nay, các tổng công ty đang chỉ đạo các công ty trực thuộc thực hiện nghiêm các chương trình, kế hoạch giảm TTÐN. Cơ bản tăng TTÐN đều là do nguyên nhân khách quan.

Cơ chế thưởng phạt về TTÐN của Tập đoàn là rất rõ ràng, gắn với trách nhiệm của đơn vị, của cá nhân. Nếu đơn vị không đạt chỉ tiêu kế hoạch do chủ quan thì tiền lương của người lao động sẽ bị ảnh hưởng. Ngoài ra, nếu không quản lý sát sao, TTÐN tăng do lỗi chủ quan, người đứng đầu đơn vị sẽ bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ và nếu 2 năm liền không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị miễn nhiệm.

PV: Có ý kiến cho rằng, tỷ lệ TTÐN sẽ tăng trở lại trong một giai đoạn nhất định do tiếp tục truyền tải sản lượng điện cao vào miền Nam, nhiều dự án nguồn và lưới điện chậm tiến độ. Ông bình luận như thế nào về ý kiến này?

Ông Lê Việt Hùng: TTÐN của EVN đã ở mức thấp, sát với ngưỡng kỹ thuật. Các biến đổi phụ tải, cơ cấu huy động nguồn hay tiến độ công trình thay đổi sẽ ảnh hưởng đến TTÐN.

Tại một số công ty điện lực, giá trị sản xuất công nghiệp giảm thì TTÐN tăng, tuy nhiên mức tăng sẽ dao động quanh ngưỡng kỹ thuật chứ không trở lại cao như trước đây. Khi đã ở mức thấp, TTÐN cũng có thể tăng nhẹ trong ngắn hạn nếu quy hoạch đầu tư lưới điện chậm hơn tăng trưởng phụ tải. Ðây là thực tế đã xảy ra ở nhiều nước có TTÐN thấp, đạt đến ngưỡng kỹ thuật.

Trong thời gian tới, nếu các yếu tố bất lợi như chậm tiến độ công trình nguồn, lưới, tải cao vào miền Nam không được giải quyết, TTÐN có thể tăng, nhưng không quá 1%.

ty le ton that dien nang cua viet nam da sat voi nguong ky thuat
EVNNPT vệ sinh sứ cách điện đang mang điện góp phần giảm TTĐN

PV: Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có TTÐN rất thấp (khoảng 3%) như Singapore, Israel, Ðài Loan,…,Việt Nam có đặt ra mục tiêu này không, thưa ông? 

Ông Lê Việt Hùng: TTÐN phụ thuộc vào đặc điểm hệ thống điện của mỗi nước, nên việc so sánh giữa các nước chỉ mang tính tương đối.

Các quốc gia và vùng lãnh thổ như: Singapore, Israel, Ðài Loan có diện tích không lớn, phụ tải tập trung, có hệ thống điện mạnh, hiện đại với độ tin cậy cao, các đường dây cung cấp điện không quá dài là lợi thế tự nhiên giúp có được tổn thất điện năng thấp. Ở Việt Nam cũng có những khu vực phụ tải tập trung có tỷ lệ TTÐN thấp, như Bình Dương (2,95%), Lào Cai (2,97%), Ðà Nẵng (3,0%), Ðồng Nai (3,35%)...

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn nhiều tỉnh có lưới điện kéo dài, điều kiện vận hành khó khăn, TTÐN cao trên 7% như Tuyên Quang, Ninh Bình, Thanh Hoá... Ở các khu vực này giảm TTÐN xuống 3% cũng có thể làm được, nhưng đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn. Hiệu quả giảm TTÐN ở khu vực này sẽ rất thấp so với yêu cầu về vốn đầu tư. Vì vậy, việc đầu tư giảm TTÐN cần phải nghiên cứu, cân nhắc kỹ, nếu không sẽ gây lãng phí lớn.

Ngay cả một số nước phát triển cũng không đưa mục tiêu giảm TTÐN bằng mọi giá. Theo số liệu chúng tôi có được, nhiều nước có tỷ lệ tổn thất cao hơn Việt Nam, như: Liên bang Nga (10%), Vương Quốc Anh (8,3%), Ấn Ðộ (18%), Brazin (15%), HongKong (12%), Hunggari (12%), Rumani (10%), Ukraina (10%), Tây Ban Nha 9,5%...

Với kinh nghiệm giảm TTÐN trong nhiều năm, EVN sẽ tiếp tục đúc rút kinh nghiệm xây dựng kế hoạch giảm TTÐN hợp lý, tập trung thực hiện tối đa các giải pháp quản lý vận hành, quản lý kinh doanh giảm TTÐN. Còn về vấn đề đầu tư, EVN sẽ tiếp tục chỉ đạo đơn vị đầu tư hiệu quả, hợp lý, không tập trung giảm TTÐN bằng mọi giá. Mục tiêu chính của EVN là tập trung thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao đảm bảo cấp đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng điện cung cấp cho khách hàng. TTÐN Việt Nam đã tương đối tốt, tập trung giảm TTÐN cần gắn với hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, không nhất thiết quá tập trung nguồn lực vào giảm TTÐN.

PV: Xin cảm ơn ông!

Tổn thất điện năng là điện năng hao phí trong quá trình truyền tải điện từ các nhà máy điện qua lưới điện truyền tải, phân phối đến các hộ tiêu thụ điện. Do các phần tử trên đường dây, trạm biến áp có điện trở, dòng điện chạy qua điện trở sẽ phát nhiệt gây nên tổn thất điện năng.

Minh Anh