Tin tức kinh tế ngày 6/8: Kiến nghị gia hạn thời gian giảm thuế cho doanh nghiệp

17:51 | 06/08/2021

|
(PetroTimes) - VCCI kiến nghị gia hạn thời gian giảm thuế cho doanh nghiệp; 80% sàn giao dịch bất động sản phải dừng hoạt động; Bộ Tài chính tiếp tục đề xuất giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp và người dân; Giá thức ăn chăn nuôi tăng phi mã... là những tin tức kinh tế chính trong ngày 6/8.

VCCI kiến nghị gia hạn thời gian giảm thuế cho doanh nghiệp

Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có công văn gửi Bộ Tài chính góp ý Dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về một số giải pháp thu ngân sách nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp chịu tác động của COVID-19. VCCI đề nghị “tăng thời hạn hỗ trợ” đến tháng 6-2022. Bởi vì từ 2020 đã có bốn đợt COVID-19 bùng phát, ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất, kinh doanh. VCCI cũng kiến nghị giảm thuế VAT cho các loại hình dịch vụ như du lịch, nhà hàng, khách sạn, vận tải, chiếu phim… lên 50% thay vì 30% như dự kiến.

VPBank tài trợ 1.000 máy thở oxy dòng cao cho phía Nam

Trước bối cảnh tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biễn phức tạp ở hầu khắp 19 tỉnh thành khu vực phía Nam, dẫn đến nhu cầu về thiết bị hỗ trợ hô hấp cho bệnh nhân tăng cao, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) quyết định tài trợ thêm 1.000 máy thở oxy dòng cao HFNC để phục vụ công cuộc phòng chống dịch. Trong các ngày 5/8 và 6/8, 3 chuyến bay đặc biệt chở 1.000 máy thở do VPBank tài trợ đã đến TP.HCM. Máy thở được bàn giao ngay cho Bộ Y tế để phân bổ kịp thời cho TP.HCM và các tỉnh phía Nam, hỗ trợ công tác điều trị Covid-19.

80% sàn giao dịch bất động sản phải dừng hoạt động

Theo thống kê của Bộ Xây dựng, tính đến thời điểm này, hầu như chỉ có các sàn giao dịch bất động sản thuộc những doanh nghiệp quy mô lớn, có tiềm lực tài chính và trực tiếp làm chủ đầu tư dự án như: công ty cổ phần dịch vụ địa ốc Đất Xanh Miền Bắc, công ty cổ phần Đầu tư và kinh doanh Bất động sản Hải Phát Land, Tập đoàn Cengroup… mới tiếp tục duy trì hoạt động.

Còn lại, khoảng 80% số lượng các sàn giao dịch bất động sản chỉ làm trung gian môi giới thì hầu như đang phải tạm dừng hoạt động. Nguyên nhân chính là do đại dịch Covid bùng phát lần thứ 4, kéo dài và diễn biến biến phức tạp hơn những lần trước, cùng với đó, nhiều tỉnh thành trên cả nước đã, đang và tiếp tục thực hiện giãn cách xã hội. Các sàn giao dịch bất động sản chưa kịp phục hồi hoàn toàn từ những lần bùng phát dịch trước, nay, phải chịu tác động nặng nề hơn.

Bộ Tài chính tiếp tục đề xuất giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Thứ nhất, giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2021 đối với doanh nghiệp, tổ chức như đã áp dụng cho năm 2020; Thứ hai, giảm 50% số thuế phải nộp phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh của các tháng trong quý 3 và quý 4 của năm 2021 đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn, hình thức khai thuế, nộp thuế.

Thứ ba, giảm 30% mức thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp, tổ chức hoạt động trong một số nhóm lĩnh vực dịch vụ; Thứ tư, miễn tiền chậm nộp phát sinh trong năm 2020 và năm 2021 là hai năm chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, đối với doanh nghiệp, tổ chức phát sinh lỗ liên tục trong các năm 2018, năm 2019, năm 2020.

Tính chung các giải pháp đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính thực hiện từ đầu năm 2021 và các giải pháp đề xuất bổ sung nêu trên, số tiền thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất sẽ hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân năm 2021 là khoảng 138.000 tỷ đồng. Trong đó gói gia hạn, miễn, giảm thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất đã ban hành khoảng 118.000 tỷ đồng.

Giá thức ăn chăn nuôi tăng phi mã

Trong những ngày cuối tháng 7 đến đầu tháng 8/2021, hàng loạt doanh nghiệp lại thông báo tiếp tục tăng giá bán thức ăn chăn nuôi. Giới chăn nuôi choáng váng, bởi việc tăng giá thức ăn lần này trong bối cảnh giá gà công nghiệp xuất chuồng đã xuống dưới ngưỡng 10.000 đồng/kg – thấp nhất trong 15 năm qua, giá lợn hơi xuất chuồng cũng đã xuống mức thấp nhất trong 4 năm qua, khiến người chăn nuôi thua lỗ trầm trọng...

Số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong tháng 7/2021, sản lượng thức ăn gia súc đạt 1,076 triệu tấn; tính chung 7 tháng đầu đạt 7,143 triệu tấn, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Mặc dù sản lượng thức ăn gia súc rất lớn, nhưng Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu. Còn theo Tổng cục Hải quan, cho thấy kim ngạch nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 6 tháng đầu năm 2021 đạt trên 2,46 tỷ USD, tăng 32,5% so với 6 tháng đầu năm 2020.

Nếu không có những giải pháp điều tiết giá thức ăn chăn nuôi, sẽ dẫn đến người chăn nuôi ngừng việc tái đàn. Khi dịch Covid -19 được kiểm soát, rất dễ dẫn tới tình trạng thiếu nguồn cung sản phẩm chăn nuôi. Đặc biệt, nguy cơ Tết Nguyên đán Nhâm Dần sẽ thiếu thịt lợn, thịt gà.

Xuất khẩu thủy sản sụt giảm

Sau khi tăng 16% vào nửa đầu tháng, xuất khẩu thủy sản nửa cuối tháng 7/2021 đã sụt giảm khoảng 15% -20% so với nửa đầu tháng. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả tháng 7/2021 chỉ đạt 763 triệu USD, giảm 4% so với cùng kỳ năm ngoái...

Triển vọng xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2021 đang rất khả quan, nhưng đã bị chững lại khi làn sóng Covid lần thứ 4 bùng phát dữ dội ở khu vực trọng điểm sản xuất, chế biến và xuất khẩu thủy sản là TP.HCM và vùng Đồng bằng sống Cửu Long đúng vào giai đoạn cao điểm. Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản, với thực tế khó khăn hiện nay, xuất khẩu thủy sản nửa cuối năm chắc chắn sẽ tuột dốc, nếu không có giải pháp hỗ trợ cần thiết cho việc phục hồi sản xuất, xuất khẩu và trực tiếp thúc đẩy sinh kế cho công nhân, nông-ngư dân trong bối cảnh sống chung với dịch bệnh Covid-19.

M.C

  • sao-thai-duong
  • bidv-5-goi-dich-vu-free
  • vietinbank
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL / DOJI HN lẻ 57,400 58,100
AVPL / DOJI HN buôn 57,400 58,100
AVPL / DOJI HCM lẻ 57,600 58,200
AVPL / DOJI HCM buôn 57,600 58,200
AVPL / DOJI ĐN lẻ 57,400 58,200
AVPL / DOJI ĐN buôn 57,400 58,200
Nguyên liêu 9999 - HN 51,170 51,350
Nguyên liêu 999 - HN 51,120 51,300
AVPL / DOJI CT lẻ 57,500 ▲50K 58,200 ▲50K
AVPL / DOJI CT buôn 57,500 ▲50K 58,200 ▲50K
Cập nhật: 24/10/2021 14:00
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - Bóng đổi 9999 0 0
TPHCM - PNJ 51.150 52.250
TPHCM - SJC 57.550 58.200
Hà Nội - PNJ 51.150 52.250
Hà Nội - SJC 57.550 58.150 ▼50K
Đà Nẵng - PNJ 51.150 52.250
Đà Nẵng - SJC 57.550 58.200
Cần Thơ - PNJ 51.150 52.250
Cần Thơ - SJC 57.550 58.200
Giá vàng nữ trang - Nhẫn PNJ (24K) 51.050 51.850
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 50.650 51.450
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 37.340 38.740
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 28.850 30.250
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.150 21.550
Cập nhật: 24/10/2021 14:00
AJC Mua vào Bán ra
Vàng trang sức 9999 5,045 ▲10K 5,185 ▲10K
Vàng trang sức 999 5,035 ▲10K 5,175 ▲10K
Vàng NT, TT, 3A Hà Nội 5,125 ▲10K 5,195 ▲10K
Vàng NT, TT Thái Bình 5,120 ▲35K 5,220 ▲50K
Vàng NT, TT Nghệ An 5,105 ▼635K 5,205 ▼615K
Vàng NL 9999 5,095 ▼655K 5,180 ▼630K
Vàng miếng SJC Thái Bình 5,740 ▼20K 5,820 ▲5K
Vàng miếng SJC Nghệ An 5,750 ▲650K 5,815 ▲615K
Vàng miếng SJC Hà Nội 5,760 ▲665K 5,815 ▲620K
Cập nhật: 24/10/2021 14:00
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 57,550 58,250
SJC 5c 57,550 58,270
SJC 2c, 1C, 5 phân 57,550 58,280
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 51,250 51,950
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 51,250 52,050
Nữ Trang 99.99% 50,850 51,650
Nữ Trang 99% 49,939 51,139
Nữ Trang 68% 33,276 35,276
Nữ Trang 41.7% 19,690 21,690
Cập nhật: 24/10/2021 14:00
BTMC Mua vào Bán ra
VÀNG MIẾNG VRTL 5,141 ▼2K 5,206 ▼2K
NHẪN TRÒN TRƠN 5,143 5,208
VÀNG MIẾNG SJC 5,757 5,809
VÀNG TRANG SỨC 5,080 ▼5K 5,190 ▼5K
99.9 (24k) 5,180 ▼5K
VÀNG HTBT 5,070 ▼5K
VÀNG NGUYÊN LIỆU 5,020 ▼5K
Cập nhật: 24/10/2021 14:00

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,559.43 16,726.70 17,251.29
CAD 17,937.24 18,118.42 18,686.67
CHF 24,166.43 24,410.53 25,176.12
CNY 3,487.62 3,522.85 3,633.88
DKK - 3,491.83 3,623.02
EUR 25,784.00 26,044.45 27,205.31
GBP 30,588.14 30,897.12 31,866.14
HKD 2,853.24 2,882.06 2,972.45
INR - 303.27 315.17
JPY 193.79 195.74 204.96
KRW 16.71 18.56 20.34
KWD - 75,413.96 78,374.33
MYR - 5,417.32 5,531.62
NOK - 2,666.71 2,777.99
RUB - 319.84 356.40
SAR - 6,052.10 6,289.67
SEK - 2,592.79 2,700.99
SGD 16,475.88 16,642.31 17,164.26
THB 602.05 668.95 694.08
USD 22,625.00 22,655.00 22,855.00
Cập nhật: 24/10/2021 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD - 16,679 17,379
CAD - 18,083 18,783
CHF - 24,467 25,117
CNY - 3,494 3,634
DKK - 3,466 3,636
EUR - 25,610 26,900
GBP - 30,724 31,894
HKD - 2,807 3,002
JPY - 194.31 205.11
KRW - 17.32 21.12
LAK - 1.54 2.49
NOK - 2,639 2,759
NZD - 16,002 16,456
SEK - 2,600 2,675
SGD - 16,315 17,115
THB - 668.8 696.8
USD - 22,575 22,855
Cập nhật: 24/10/2021 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
USD, (1,2) 22,448
USD, (5,10,20) 22,448
USD,50-100 22,641 22,661 22,851
JPY 197.08 196.89 206.08
AUD 16,498 16,726 17,353
CAD 17,920 18,139 18,764
GBP 30,619 30,864 31,835
CHF 24,326 24,582 25,217
SGD 16,526 16,615 17,244
EUR 25,982 26,186 27,206
CNY - 3,503 3,635
HKD - 2,797 2,998
THB 654 661 715
MYR - 5,411 5,565
KRW - 22.00
Cập nhật: 24/10/2021 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 22,655 22,655 22,855
USD(1-2-5) 22,448 - -
USD(10-20) 22,610 - -
GBP 30,718 30,904 31,965
HKD 2,870 2,890 2,963
CHF 24,272 24,418 25,180
JPY 195.79 196.97 204.77
THB 646.65 653.18 710.59
AUD 16,679 16,779 17,281
CAD 18,027 18,136 18,713
SGD 16,568 16,668 17,153
SEK - 2,611 2,688
LAK - 1.89 2.33
DKK - 3,507 3,610
NOK - 2,682 2,762
CNY - 3,508 3,610
RUB - 290 371
NZD 16,060 16,157 16,484
KRW 17.34 - 21.11
EUR 26,037 26,107 27,118
TWD 739.18 - 836.7
MYR 5,130.79 - 5,612.18
Cập nhật: 24/10/2021 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 22,650.00 22,670.00 22,850.00
EUR 26,083.00 26,188.00 26,739.00
GBP 30,917.00 31,104.00 31,694.00
HKD 2,876.00 2,888.00 2,967.00
CHF 24,390.00 24,488.00 25,089.00
JPY 196.64 197.43 201.63
AUD 16,678.00 16,745.00 17,267.00
SGD 16,670.00 16,737.00 17,072.00
THB 660.00 663.00 701.00
CAD 18,146.00 18,219.00 18,603.00
NZD 0.00 16,084.00 16,532.00
KRW 0.00 18.45 20.24
Cập nhật: 24/10/2021 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 22.655 22.695 22.867
AUD 16.887 16.987 17.491
CAD 18.250 18.350 18.754
CHF 24.617 24.717 25.133
EUR 26.287 26.387 26.844
GBP 31.202 31.302 31.714
JPY 197,4 198,9 203,74
SGD 16.707 16.807 17.111
Cập nhật: 24/10/2021 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
GOLD 5,756,000 5,756,000 5,814,000
USD(50,100) 22,652 22,672 23,132
USD(5, 10, 20) 22,632 22,672 23,132
USD(1,2) 22,632 22,672 23,132
EUR 26,199 26,299 26,820
GBP 30,902 31,002 31,727
JPY 197.48 198.48 203.62
CAD 18,003 18,053 18,817
AUD 16,682 16,782 17,294
SGD 16,576 16,676 17,190
CNY
THB
CHF
KRW
Cập nhật: 24/10/2021 14:00
  • pvgas-inside
  • pvgas