Tin tức kinh tế ngày 17/9: Bộ Tài chính lên tiếng về thông tin "ngân sách Trung ương gần như không còn"

00:00 | 17/09/2021

|
(PetroTimes) - Bộ Tài chính lên tiếng về thông tin "ngân sách Trung ương gần như không còn"; Áo sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam tăng cường quan hệ với EU; Giãn cách xã hội ở Việt Nam đẩy giá cà phê thế giới tăng cao; Sẽ xử lý nghiêm công ty chứng khoán vi phạm trong dịch vụ trái phiếu; Giá vàng ngày 17/09 giảm mạnh... là những tin tức kinh tế đáng chú ý ngày 17/09.

Bộ Tài chính lên tiếng về thông tin "ngân sách Trung ương gần như không còn"

Chiều 17/9, Bộ Tài chính cho biết, thông tin báo chí nêu: "Ngân sách rất khó khăn, ngân sách trung ương gần như không còn, hiện chỉ chờ vào nguồn tiết kiệm chi và khoảng 14.620 tỷ đồng đang trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh dự toán thì mới chi được". Cách nêu này làm độc giả hiểu sai tình hình ngân sách nhà nước

Bộ Tài chính lên tiếng về thông tin "ngân sách Trung ương gần như không còn"
Bộ Tài chính thông tin báo chí nêu "ngân sách rất khó khăn, gần như không còn" gây hiểu lầm.

Để làm rõ vấn đề này, Bộ Tài chính thông tin như sau: Tại cuộc họp Ủy ban Thường vụ quốc hội ngày 16/9 bàn về việc ban hành chính sách miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanh khó khăn do đại dịch Covid-19, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc đã báo cáo Ủy ban Thường vụ quốc hội, hiện nay, ngân sách dự phòng Trung ương là 17.500 tỷ đồng đã chi hết. Trong khi đó, nhu cầu chi cho công tác phòng chống dịch đối với các lực lượng tham gia phòng chống dịch như công an, quân đội và các địa phương là rất lớn. Do đó, Chính phủ đã trình Ủy ban Thường vụ quốc hội cho phép chuyển nguồn tiết kiệm chi thường xuyên 14.620 tỷ đồng điều chỉnh vào dự phòng ngân sách Trung ương, để thực hiện các nhiệm vụ chi cấp bách cho công tác phòng chống dịch Covid-19...

Áo sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam tăng cường quan hệ với EU

Tại buổi điện đàm giữa Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính với Thủ tướng Áo Sebastian Kurz ngày 16/09. Hai Thủ tướng khẳng định mong muốn cùng phối hợp chặt chẽ khai thác hiệu quả những cơ hội mà Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) mang lại. Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị Chính phủ Áo tạo thuận lợi cho việc xuất khẩu nông thủy sản, đặc biệt là hoa quả mùa vụ, cafe, hồ tiêu, hạt điều.... của Việt Nam vào thị trường Áo, sớm phê chuẩn hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA), thúc đẩy Ủy ban Châu Âu (EC) sớm gỡ bỏ “thẻ vàng” đối với thủy sản Việt Nam.

Thủ tướng Sebastian Kurz chia sẻ với các ý kiến của Thủ tướng Phạm Minh Chính và đồng thời khẳng định Áo sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam tăng cường quan hệ với EU và sớm gỡ bỏ thẻ vàng IUU.

Giãn cách xã hội ở Việt Nam đẩy giá cà phê thế giới tăng cao

Mới đây, hãng tin CNBC đã dẫn một dự báo của Fitch Solutions về tình hình giá cà phê thế giới và nhắc tới Việt Nam với lợi thế là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ nhì thế giới.

Theo số liệu hải quan, trong tháng 8 vừa qua, xuất khẩu cà phê của Việt Nam giảm 8,7% so với tháng 7, còn 111.697 tấn. 8 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu 1,1 triệu tấn cà phê, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng kim ngạch tăng 2%, đạt khoảng 2 tỷ USD. Xuất khẩu cà phê của Việt Nam giảm và sản lượng đi xuống tại các nước sản xuất cà phê hàng đầu khác đã đẩy giá cà phê thế giới tăng mạnh. Giá cà phê arabica giao sau đã tăng khoảng 45,8% trong năm nay, trong khi giá cà phê robusta tăng 52,2%, theo dữ liệu từ Refinitiv.

Sẽ xử lý nghiêm công ty chứng khoán vi phạm trong dịch vụ trái phiếu

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước vừa ban hành văn bản yêu cầu các công ty chứng khoán (CTCK) tuân thủ các quy định để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) theo hướng an toàn, bền vững, đồng thời ngăn chặn những rủi ro tiềm ẩn của thị trường.

Theo cơ quan quản lý ngành chứng khoán, thị trường TPDN thời gian qua tăng trưởng mạnh mẽ, góp phần phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, trên thị trường cũng đã xuất hiện một số hiện tượng chào bán, phân phối, chuyển quyền sở hữu chưa phù hợp với quy định của pháp luật.

Trung Quốc tạm dừng nhập khẩu thanh long Việt Nam

Bộ Công Thương cho biết, mới đây đã nhận được thông tin từ Sở Công Thương tỉnh Quảng Ninh về việc Chính quyền Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc thông báo tạm dừng thông quan nhập khẩu đối với mặt hàng thanh long của Việt Nam qua khu vực Cầu phao tạm Đông Hưng (phía Việt Nam là Điểm xuất hàng Km3+4, Quảng Ninh).

Thời gian dừng nhập khẩu là 7 ngày, từ ngày 15 - 21/9/2021 do phát hiện virus Sars-CoV-2 trên bao bì bọc quả thanh long và thùng carton đựng thanh long nhập khẩu từ Việt Nam.

VN-Index vượt 1.350 điểm

Kết thúc phiên giao dịch sáng, VN-Index tăng 6,84 điểm lên 1.352,71 điểm; giao dịch 461,7 triệu cổ phiếu, tương đương giá trị đạt hơn 12.000 tỷ đồng.

HNX-Index tăng 3,84 điểm lên 357,08 điểm, giao dịch 100,45 triệu cổ phiếu, tương đương mức thanh khoản đạt hơn 1.917 tỷ đồng.

Giá vàng ngày 17/09 giảm mạnh

Ghi nhận vào đầu giờ ngày 17/9, theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay đứng ở mức 1.754,31 USD/Ounce, giảm khoảng 40 USD so với cùng thời điểm ngày 16/9.

So với đầu năm 2021, giá vàng thế giới đã giảm khoảng 247 USD. Quy theo giá USD ngân hàng, chưa tính thuế và phí, giá vàng thế giới giao ngay có giá 48,71 triệu đồng/lượng, thấp hơn khoảng 8,79 triệu đồng/lượng so với giá vàng SJC trong nước. Trong khi đó, giá vàng thế giới giao tháng 10/2021 ghi nhận trên sàn Comex thuộc New York Mercantile Exchanghe ở mức 1.751,7 USD/Ounce, giảm 2,9 USD/Ounce trong phiên.

M.C

  • sao-thai-duong
  • bidv-5-goi-dich-vu-free
  • vietinbank
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL / DOJI HN lẻ 57,600 58,350 ▼50K
AVPL / DOJI HN buôn 57,600 58,350 ▼50K
AVPL / DOJI HCM lẻ 57,800 58,400
AVPL / DOJI HCM buôn 57,800 58,400
AVPL / DOJI ĐN lẻ 57,600 58,400
AVPL / DOJI ĐN buôn 57,600 58,400
Nguyên liêu 9999 - HN 51,270 ▼130K 51,470 ▼150K
Nguyên liêu 999 - HN 51,220 ▼130K 51,420 ▼150K
AVPL / DOJI CT lẻ 57,700 58,400
AVPL / DOJI CT buôn 57,700 58,400
Cập nhật: 27/10/2021 14:15
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - Bóng đổi 9999 0 0
TPHCM - PNJ 51.500 ▼100K 52.600 ▼100K
TPHCM - SJC 57.750 ▼50K 58.450 ▼50K
Hà Nội - PNJ 51.500 ▼100K 52.600 ▼100K
Hà Nội - SJC 57.750 ▼50K 58.450 ▼50K
Đà Nẵng - PNJ 51.500 ▼100K 52.600 ▼100K
Đà Nẵng - SJC 57.750 ▼50K 58.450 ▼50K
Cần Thơ - PNJ 51.500 ▼100K 52.600 ▼100K
Cần Thơ - SJC 57.750 ▼50K 58.450 ▼50K
Giá vàng nữ trang - Nhẫn PNJ (24K) 51.400 ▼100K 52.150 ▼100K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 51.000 ▼100K 51.800 ▼100K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 37.600 ▼80K 39.000 ▼80K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 29.050 ▼60K 30.450 ▼60K
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.300 ▼40K 21.700 ▼40K
Cập nhật: 27/10/2021 14:15
AJC Mua vào Bán ra
Vàng trang sức 9999 5,055 ▼15K 5,195 ▼15K
Vàng trang sức 999 5,045 ▼15K 5,185 ▼15K
Vàng NT, TT Hà Nội, 3A 5,135 ▼15K 5,205 ▼15K
Vàng NL 9999 5,105 ▼15K 5,190 ▼15K
Vàng miếng SJC Thái Bình 5,770 ▼10K 5,840
Vàng miếng SJC Nghệ An 5,765 5,830
Vàng miếng SJC Hà Nội 5,770 ▼5K 5,830
Vàng NT, TT Thái Bình 5,130 ▼10K 5,230 ▼10K
Vàng NT, TT Nghệ An 5,130 5,230
Cập nhật: 27/10/2021 14:15
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 57,900 58,600
SJC 5c 57,900 58,620
SJC 2c, 1C, 5 phân 57,900 58,630
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 51,400 ▼200K 52,100 ▼200K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 51,400 ▼200K 52,200 ▼200K
Nữ Trang 99.99% 51,000 ▼200K 51,800 ▼200K
Nữ Trang 99% 50,087 ▼198K 51,287 ▼198K
Nữ Trang 68% 33,378 ▼136K 35,378 ▼136K
Nữ Trang 41.7% 19,753 ▼83K 21,753 ▼83K
Cập nhật: 27/10/2021 14:15
BTMC Mua vào Bán ra
VÀNG MIẾNG VRTL 5,149 ▼12K 5,214 ▼12K
NHẪN TRÒN TRƠN 5,149 ▼12K 5,214 ▼12K
VÀNG MIẾNG SJC 5,782 ▲1K 5,835
VÀNG TRANG SỨC 5,090 ▼15K 5,200 ▼15K
99.9 (24k) 5,190 ▼15K
VÀNG HTBT 5,080 ▼15K
VÀNG NGUYÊN LIỆU 5,030 ▼15K
Cập nhật: 27/10/2021 14:15

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,703.60 16,872.32 17,401.49
CAD 17,906.84 18,087.71 18,655.00
CHF 24,134.88 24,378.66 25,143.25
CNY 3,493.36 3,528.64 3,639.86
DKK - 3,485.19 3,616.13
EUR 25,732.99 25,992.92 27,151.49
GBP 30,546.00 30,854.55 31,822.24
HKD 2,852.94 2,881.76 2,972.14
INR - 303.13 315.03
JPY 193.48 195.43 204.63
KRW 16.87 18.75 20.54
KWD - 75,338.87 78,296.29
MYR - 5,434.32 5,548.97
NOK - 2,667.60 2,778.93
RUB - 327.01 364.39
SAR - 6,052.10 6,289.67
SEK - 2,590.23 2,698.32
SGD 16,472.21 16,638.60 17,160.44
THB 606.23 673.59 698.89
USD 22,625.00 22,655.00 22,855.00
Cập nhật: 27/10/2021 14:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 16,877 16,977 17,527
CAD 18,120 18,220 18,770
CHF 24,454 24,559 25,059
CNY - 3,525 3,635
DKK - 3,500 3,630
EUR #25,801 25,826 26,846
GBP 30,957 31,007 31,967
HKD 2,851 2,866 3,001
JPY 195.2 195.7 204.2
KRW 17.64 18.44 21.24
LAK - 1.53 2.48
NOK - 2,682 2,762
NZD 16,101 16,184 16,471
SEK - 2,618 2,668
SGD 16,438 16,538 17,138
THB 630.72 675.06 698.72
USD #22,638 22,658 22,858
Cập nhật: 27/10/2021 14:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
USD, (1,2) 22,437
USD, (5,10,20) 22,437
USD,50-100 22,645 22,665 22,855
JPY 196.29 196.08 205.10
AUD 16,647 16,877 17,477
CAD 17,902 18,120 18,721
GBP 30,705 30,952 31,854
CHF 24,247 24,500 25,103
SGD 16,546 16,636 17,237
EUR 25,904 26,106 27,108
CNY - 3,504 3,635
HKD - 2,797 2,997
THB 658 664 715
MYR - 5,416 5,568
KRW - 23.00
Cập nhật: 27/10/2021 14:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 22,655 22,655 22,855
USD(1-2-5) 22,442 - -
USD(10-20) 22,610 - -
GBP 30,669 30,855 31,910
HKD 2,870 2,890 2,962
CHF 24,211 24,357 25,125
JPY 195.43 196.61 204.37
THB 649.77 656.33 714.02
AUD 16,788 16,889 17,394
CAD 17,969 18,077 18,651
SGD 16,549 16,649 17,135
SEK - 2,605 2,683
LAK - 1.88 2.31
DKK - 3,499 3,601
NOK - 2,683 2,763
CNY - 3,514 3,617
RUB - 296 380
NZD 16,044 16,141 16,473
KRW 17.5 19.34 20.43
EUR 25,970 26,040 27,051
TWD 741.09 - 838.87
MYR 5,142.54 - 5,627.76
Cập nhật: 27/10/2021 14:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 22,650.00 22,670.00 22,850.00
EUR 26,030.00 26,065.00 26,755.00
GBP 30,855.00 31,041.00 31,630.00
HKD 2,870.00 2,882.00 2,967.00
CHF 24,318.00 24,416.00 25,045.00
JPY 195.92 197.21 204.41
AUD 16,788.00 16,856.00 17,408.00
SGD 16,633.00 16,700.00 17,064.00
THB 659.00 662.00 706.00
CAD 18,074.00 18,147.00 18,560.00
NZD 0.00 16,049.00 16,526.00
KRW 0.00 18.64 20.47
Cập nhật: 27/10/2021 14:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 22.657 22.667 22.869
AUD 16.925 17.025 17.533
CAD 18.169 18.269 18.672
CHF 24.539 24.639 25.062
EUR 26.205 26.305 26.760
GBP 31.143 31.243 31.648
JPY 197,04 198,54 204,37
SGD 16.682 16.782 17.087
Cập nhật: 27/10/2021 14:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
GOLD 5,786,000 5,786,000 5,844,000
USD(50,100) 22,657 22,677 23,131
USD(5, 10, 20) 22,637 22,677 23,131
USD(1,2) 22,637 22,677 23,131
EUR 26,089 26,189 26,698
GBP 30,920 31,020 31,728
JPY 196.57 197.57 202.62
CAD 17,961 18,011 18,766
AUD 16,745 16,845 17,359
SGD 16,580 16,680 17,186
CNY
THB
CHF
KRW
Cập nhật: 27/10/2021 14:15
  • pvgas-inside
  • pvgas