Tin tức kinh tế ngày 15/7: TP HCM miễn phí hạ tầng cảng biển cho doanh nghiệp
TP HCM miễn phí hạ tầng cảng biển cho doanh nghiệp
TP HCM miễn phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ và tiện ích công cộng khu vực cửa khẩu cảng biển nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Chính sách có hiệu lực từ nay đến hết tháng 6/2029.
![]() |
| (Ảnh minh họa) |
Tất cả tổ chức, cá nhân thuộc diện phải nộp phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu cảng biển đều được miễn trong thời gian nghị quyết có hiệu lực. Chính sách cũng áp dụng cho các doanh nghiệp, đơn vị hoặc cá nhân thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu, vận chuyển hàng hóa qua hệ thống cảng biển thuộc phạm vi áp dụng của quy định thu phí.
Tổng mức hụt thu ngân sách khi thực hiện chính sách được ước tính lên đến hơn 7.100 tỷ đồng. Tuy nhiên, đây là khoản hỗ trợ của thành phố cho cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhằm giảm áp lực chi phí logistics, từ đó kéo giảm giá dịch vụ vận tải, kho bãi và giao nhận.
Theo UBND TP HCM, thời gian miễn phí kéo dài 3 năm được xem là phù hợp với chu kỳ phục hồi của doanh nghiệp sau những biến động kinh tế, tạo điều kiện để ổn định dòng tiền, khôi phục thị trường, tái cơ cấu chuỗi cung ứng và xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh trung hạn. Đây cũng là khoảng thời gian để cơ quan quản lý đánh giá toàn diện hiệu quả của chính sách trước khi xem xét các bước tiếp theo.
Đa dạng hóa các kênh dẫn vốn
Chia sẻ tại Hội thảo “Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn”, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) Bùi Hoàng Hải cho rằng, để đạt được hiệu quả huy động và phân bổ nguồn vốn, thì không thể phụ thuộc vào một nguồn vốn riêng nào, mà cần phải phát triển ở nhiều nguồn huy động khác nhau.
Phó Chủ tịch UBCKNN Bùi Hoàng Hải cho hay, thị trường chứng khoán và thị trường tín dụng luôn có mối quan hệ hữu cơ qua lại. Ví dụ, nếu lãi suất huy động tăng trên 10%, lãi suất cho vay lên đến 13 - 15%, thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thanh khoản và khả năng huy động vốn trên thị trường chứng khoán.
Ông Bùi Hoàng Hải phân tích, các giải pháp phát triển thị trường vốn hiện nay bao gồm cả ngắn hạn và dài hạn. Những cải cách như cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính hay mở rộng điều kiện tiếp cận của nhà đầu tư nước ngoài tạo hiệu quả từng bước. Trong khi đó, các giải pháp mang tính nền tảng như hoàn thiện thể chế, phát triển sản phẩm mới hay nâng cao chất lượng nhà đầu tư cần thêm thời gian để phát huy tác dụng.
Câu chuyện nâng hạng không chỉ là mục tiêu để thu hút dòng vốn quốc tế, mà còn là động lực thúc đẩy quá trình hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng hoạt động và xây dựng một thị trường chứng khoán hiện đại, minh bạch, có khả năng huy động hiệu quả nguồn lực cho nền kinh tế.
Đối với thị trường cổ phiếu, Phó Chủ tịch UBCKNN Bùi Hoàng Hải cho biết, cơ quan quản lý đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp phát triển cả phía cung và phía cầu. Bộ Tài chính đã ban hành Đề án Tái cấu trúc nhà đầu tư và phát triển ngành quỹ đầu tư chứng khoán. Song song với đó là chiến lược đào tạo nhà đầu tư, phổ cập kiến thức tài chính để hình thành tư duy đầu tư dài hạn thay vì đầu cơ ngắn hạn.
Để tiếp tục mở rộng khả năng huy động vốn, UBCKNN cũng đang nghiên cứu phát triển thêm các sản phẩm và thị trường mới. Trong đó, có thị trường dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp, các công cụ phái sinh mới và các sản phẩm phòng ngừa rủi ro, qua đó tạo thêm kênh phân bổ vốn, đa dạng hóa lựa chọn đầu tư, thu hút nhiều hơn các dòng vốn trong và ngoài nước.
Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam ghi nhận 20 tỷ USD vốn cam kết
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP HCM (VIFC-HCMC), quy mô vốn cam kết và tiềm năng huy động từ các nhà đầu tư, đối tác trong và ngoài nước hiện đạt khoảng 20 tỷ USD. Tuy nhiên, con số này chưa đồng nghĩa với việc toàn bộ nguồn vốn đã được giải ngân. Mục tiêu cuối cùng của chúng tôi không phải là các cam kết đầu tư, mà là làm sao hiện thực hóa các cam kết đó thành dòng vốn thực chảy vào nền kinh tế.
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cho biết, để đạt được mục tiêu này cần đáp ứng đồng thời 4 điều kiện. Trước hết, TP HCM phải chuẩn bị danh mục dự án đủ điều kiện thu hút vốn quốc tế, với hồ sơ pháp lý hoàn chỉnh và cơ chế hoàn vốn rõ ràng. Đồng thời, trung tâm cần nhanh chóng triển khai các công cụ dẫn vốn như trái phiếu quốc tế, trái phiếu xanh, quỹ đầu tư, tài trợ thương mại, tài chính hàng không và tài chính hàng hải.
Bên cạnh đó, VIFC-HCMC cần xây dựng các cơ chế chia sẻ rủi ro thông qua bảo lãnh, bảo hiểm tín dụng, xếp hạng tín nhiệm và sự tham gia của các định chế tài chính phát triển. Mỗi cam kết đầu tư cũng cần được cụ thể hóa thành chương trình hành động với dự án, quy mô vốn và tiến độ triển khai rõ ràng để có thể chuyển hóa thành các giao dịch tài chính thực tế.
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, VIFC-HCMC hiện vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện khung pháp lý để chính thức vận hành đầy đủ. Sau khi Quy chế Hội đồng Điều hành được ban hành, trung tâm sẽ triển khai cấp phép cho các thành viên là ngân hàng, công ty chứng khoán, doanh nghiệp bảo hiểm và các tổ chức tài chính khác. Từ nay đến cuối năm, trọng tâm của VIFC-HCMC là đưa các sản phẩm tài chính đầu tiên vào triển khai. Trong đó, ưu tiên là các quỹ đầu tư và nhóm sản phẩm trái phiếu quốc tế, gồm trái phiếu đô thị, trái phiếu hạ tầng quốc tế, trái phiếu xanh và trái phiếu doanh nghiệp quốc tế.
Bên cạnh đó, trung tâm sẽ phát triển hệ sinh thái tài chính xanh với các khoản vay gắn nhãn ESG, các sản phẩm tài chính tạo tác động (impact finance) và các công cụ tài chính bền vững khác. Trong lĩnh vực fintech, VIFC-HCMC sẽ thúc đẩy cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), phát triển thanh toán xuyên biên giới và các sản phẩm tài chính số.
Dự án đầu tư ra nước ngoài được vay tối đa 70% vốn
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa ban hành Thông tư số 32 thay thế Thông tư số 36 năm 2018 quy định về hoạt động cho vay để đầu tư ra nước ngoài của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Theo đó, Thông tư 32 sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến nhu cầu vay vốn đầu tư ra nước ngoài để phù hợp với Điều 39 của Luật Đầu tư năm 2025.
Thông tư 32 quy định về một trong các điều kiện cho vay là nhà đầu tư đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài hoặc đã được xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài theo quy định pháp luật về ngoại hối (đối với dự án không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài) để phù hợp với quy định tại Nghị định 103/2026/NĐ-CP quy định về đầu tư ra nước ngoài.
Theo NHNN, quy định về mức cho vay để đầu tư ra nước ngoài, Thông tư 32 quy định mức cam kết cho vay tối đa tại hợp đồng tín dụng/thỏa thuận cho vay của một tổ chức tín dụng để thực hiện dự án đầu tư ra nước ngoài không vượt quá 70% vốn đầu tư ra nước ngoài của khách hàng tại dự án đó.
Trường hợp, khách hàng vay vốn tại nhiều tổ chức tín dụng để thực hiện cùng một dự án đầu tư ra nước ngoài, tổng mức cam kết cho vay tại hợp đồng tín dụng/thỏa thuận cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng để thực hiện dự án không vượt quá 70% vốn đầu tư ra nước ngoài của khách hàng tại dự án đó.
Để được xem xét cho vay, khách hàng phải có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài hoặc xác nhận đăng ký giao dịch ngoại hối liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Đồng thời, dự án phải được cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư chấp thuận hoặc cấp phép. Dự án đầu tư phải được tổ chức tín dụng đánh giá tính khả thi, khách hàng có khả năng trả nợ và không phát sinh nợ xấu trong 24 tháng liền kề trước khi đề nghị vay vốn.
Mức cam kết cho vay tối đa của một tổ chức tín dụng đối với một dự án đầu tư ra nước ngoài không được vượt quá 70% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của khách hàng tại dự án. Tổ chức tín dụng có quyền và nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn và trả nợ của khách hàng; đồng thời được yêu cầu khách hàng báo cáo kết quả hoạt động, tình hình sử dụng vốn và cung cấp tài liệu chứng minh vốn vay được sử dụng đúng mục đích.
Khách hàng có trách nhiệm sử dụng vốn đúng mục đích, thanh toán đầy đủ nợ gốc, lãi và các khoản phí đúng hạn theo thỏa thuận, đồng thời thực hiện chế độ báo cáo và cung cấp thông tin theo yêu cầu của tổ chức tín dụng.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18/8/2026.
Doanh nghiệp là trung tâm của chiến lược tăng trưởng
Tại diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số”, TS. Phạm Anh Tuấn - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho biết, giai đoạn 1996-2000 là thời kỳ Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm cao nhất kể từ khi đổi mới, nhờ quá trình gia nhập ASEAN và mở cửa mạnh mẽ nền kinh tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2006-2025, tốc độ tăng trưởng bình quân của các giai đoạn 5 năm chỉ đạt khoảng 6,2-6,3%, cho thấy mục tiêu tăng trưởng 10% trong giai đoạn 2026-2030 là thách thức rất lớn.
TS Phạm Anh Tuấn đánh giá Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân là bước đi đúng hướng, nhưng mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế sẽ không dễ thực hiện. "Hiện Việt Nam có hơn 1 triệu doanh nghiệp. Để đạt mốc 2 triệu vào năm 2030, mỗi năm cần tăng thêm ít nhất 200.000 doanh nghiệp, trong khi giai đoạn 2016-2025 chưa năm nào số doanh nghiệp tăng ròng vượt 100.000".
Không chỉ số lượng, sức khỏe doanh nghiệp cũng là vấn đề đáng lo ngại. Theo số liệu của VCCI, trong 6 tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp báo lỗ vẫn cao hơn số doanh nghiệp báo lãi. Dù số doanh nghiệp thành lập mới tăng khá, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng ở mức cao, trong đó số doanh nghiệp hoàn tất giải thể tăng tới 94,7% so với cùng kỳ. TS. Phạm Anh Tuấn cho biết, khoảng 70% doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng, hơn 81% doanh nghiệp sử dụng dưới 10 lao động và tỷ suất lợi nhuận bình quân năm 2024 chỉ đạt 2,2%.
Theo TS. Phạm Anh Tuấn, 4 nhóm điểm nghẽn lớn nhất đối với doanh nghiệp hiện nay là thể chế, tiếp cận nguồn lực, thị trường và đổi mới sáng tạo. Về thể chế, doanh nghiệp vẫn phải chịu chi phí tuân thủ lớn và đối mặt với sự thay đổi chính sách chưa thực sự ổn định. Về nguồn lực, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, gặp khó khăn trong tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ và dữ liệu. Về thị trường, các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng cao tạo áp lực lớn. Trong khi đó, nguồn lực dành cho đổi mới sáng tạo còn rất hạn chế.
Ngoài các điểm nghẽn nội tại, doanh nghiệp còn chịu áp lực từ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường và yêu cầu hiện đại hóa quản trị. Để hỗ trợ doanh nghiệp, ông đề xuất ưu tiên sáu nhóm chính sách: tiếp tục cải cách thể chế; khơi thông nguồn lực; phát triển thị trường vốn; hỗ trợ thuế cho đổi mới sáng tạo; phát triển dữ liệu và hạ tầng số; nâng cao năng lực hấp thụ của doanh nghiệp trong nước để kết nối hiệu quả với khu vực FDI.
Điểm nghẽn hiện nay không nằm ở tổng cầu mà chủ yếu ở năng lực của doanh nghiệp, bao gồm thể chế vi mô, nguồn lực, thị trường và khả năng đổi mới. Trong bối cảnh quốc tế nhiều biến động, điều quan trọng là giúp doanh nghiệp tồn tại, lớn lên, đổi mới và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
TS. Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh, tăng trưởng hai con số chỉ có thể đạt được khi Việt Nam đồng thời nâng cao năng suất lao động và tăng cường năng lực của doanh nghiệp trong nước.
Phú Văn
-
Tin tức kinh tế ngày 15/7: TP HCM miễn phí hạ tầng cảng biển cho doanh nghiệp
-
Tàu qua eo biển Hormuz phải trả phí bảo hiểm cao tới mức nào?
-
Hà Nội xây dựng phương án bảo đảm nguồn cung xăng dầu trong mọi tình huống
-
Điện gió ngoài khơi: Thiết lập “bộ lọc” để phát triển bền vững
-
Cần Thơ đẩy nhanh các dự án năng lượng, tạo đà cho tăng trưởng kinh tế




