Thu ngân sách giảm đáng kể do tình hình Covid-19

10:16 | 21/09/2021

|
(PetroTimes) - Trước tình hình dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, dự báo công tác thu ngân sách nhà nước trong những tháng cuối năm 2021 sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thách thức.

Số thu giảm mạnh tại hầu hết các sắc thuế

Theo thông tin từ Bộ Tài chính, thu ngân sách nhà nước trong tháng 8/2021 ước đạt 78,6 nghìn tỷ đồng. Lũy kế thu ngân sách nhà nước 8 tháng của năm 2021 ước đạt 1.004,2 nghìn tỷ đồng, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2020.

Mặc dù, tiến độ thu nội địa, khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách, 8 tháng của năm 2021 vẫn đạt khá so với mức thực hiện cùng kỳ những năm gần đây, song diễn biến thu qua các tháng có xu hướng giảm dần, cho thấy dấu hiệu bị nhiều ảnh hưởng vì dịch Covid-19. Tổng thu tháng 8 so với tháng 5 và tháng 6/2021 (là các tháng có cùng điều kiện thu, không phải kỳ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp) chỉ bằng 78,2% và 84%, tương ứng số thu thấp hơn khoảng 19,2 nghìn tỷ đồng và 13,1 nghìn tỷ đồng.

Thu ngân sách nhà nước 8 tháng của năm 2021 bằng 74,8% dự toán, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2020. Tuy nhiên, thu ngân sách nhà nước tháng 8/2021 đã giảm đáng kể do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội.

Tổng Cục trưởng Tổng cục Thuế Cao Anh Tuấn cho biết, thu ngân sách của ngành Thuế tháng 8/2021 đạt hơn 68,8 nghìn tỷ đồng, bằng 91,5% so với cùng kỳ năm 2020. Thực tế số thu ngân sách tháng 8/2021 đã cho thấy tác động nặng nề của dịch Covid-19 đến hầu hết hoạt động của nền kinh tế. Số thu giảm mạnh ở hầu hết các sắc thuế chính như: Thuế giá trị gia tăng chỉ đạt 57%, thuế tiêu thụ đặc biệt đạt 59,5%, thuế thu nhập cá nhân đạt 60% số thu bình quân 7 tháng của năm 2021. Đặc biệt, số thu lệ phí trước bạ tháng 8/2021 chỉ đạt 970 tỷ đồng, mức thấp đột biến kể từ tháng 1/2020, thấp hơn mức bình quân 7 tháng của năm 2021 hơn 2,3 nghìn tỷ đồng.

Theo Tổng cục Thuế, nếu tính theo khu vực kinh tế, số thu tháng 8/2021 từ khu vực doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực công thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc doanh chỉ đạt 24,7 nghìn tỷ đồng, bằng 43% so với số thu bình quân 7 tháng của năm 2021. Riêng những địa phương thực hiện giãn cách xã hội, số thu trong tháng 8/2021 giảm hơn 10% so với mức bình quân trong 7 tháng của năm 2021.

Thu ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu trong tháng 8/2021 đạt hơn 27,1 nghìn tỷ đồng, giảm 14,35% so với tháng 7/2021. Theo số liệu từ Tổng cục Hải Quan, do dịch Covid-19 trong tháng 8 diễn biến phức tạp, riêng 19 tỉnh phía Nam, kim ngạch xuất, nhập khẩu giảm 56 tỷ USD.

Trong khi đó, tổng chi ngân sách nhà nước 8 tháng ước đạt 918,1 nghìn tỷ đồng, bằng 54,4% dự toán; trong đó chi đầu tư phát triển đạt 187,3 nghìn tỷ đồng, bằng 39,2% dự toán. Tính đến hết tháng 8/2021, ngân sách nhà nước đã chi 18,8 nghìn tỷ đồng, trong đó 17,2 nghìn tỷ đồng cho phòng, chống dịch; 1,6 nghìn tỷ đồng hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch Covid-19.

Nỗ lực trong những tháng cuối năm

Trước những khó khăn, thách thức đặt ra, ngành Tài chính đang nỗ lực triển khai nhiều giải pháp, nhằm hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước cả năm 2021. Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc nhận định, nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước đang đứng trước khó khăn, thách thức rất lớn. Ngành Tài chính vừa phải bảo đảm kinh phí cho hoạt động của bộ máy, vừa bảo đảm chi cho công tác chống dịch Covid-19. Do đó, đòi hỏi toàn ngành phải dốc sức, dốc lòng, bằng những sáng tạo, sáng kiến để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Số thu ngân sách từ thu nội địa, thu thuế xuất nhập khẩu đều giảm, trong khi phải tăng chi cho phòng chống dịch, nên ngành Tài chính phải linh hoạt trong điều hành, cơ cấu lại ngân sách nhà nước và triệt để tiết kiệm chi.

Bộ trưởng Hồ Đức Phớc lưu ý, điều đáng lo ngại hiện nay đó là, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế của nhiều nước trên thế giới tăng trưởng cao, Việt Nam lại có mức tăng trưởng thấp, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số thu ngân sách nhà nước. “Khi nền kinh tế có vững chắc, doanh nghiệp vững thì các mục tiêu về tài chính - ngân hàng mới vững được. Do đó, ngành Tài chính phải nỗ lực phấn đấu, sáng tạo hơn nữa triển khai nhiệm vụ trong tình hình mới.

Theo Cục trưởng Cao Anh Tuấn, để hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách cả năm 2021, từ nay đến cuối năm, ngành Thuế tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến dịch Covid-19 tại từng địa bàn và tiến độ thu ngân sách tương ứng, để đánh giá, phân tích, đề xuất với các cơ quan chức năng giải pháp thu hiệu quả.

Trong tháng 9/2021, Tổng cục Thuế sẽ tập trung hoàn thành để trình Bộ xem xét ký ban hành Thông tư hướng dẫn chung về Quản lý thuế; Thông tư hướng dẫn thu cổ tức, lợi nhuận còn lại; Thông tư hướng dẫn về hóa đơn, chứng từ; Thông tư hướng dẫn về thuế GTGT; tiếp tục tập trung thực hiện đề án về hóa đơn điện tử theo tiến độ và lộ trình.

Cơ quan thuế các cấp sẽ tiếp tục triển khai đôn đốc thực hiện các kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước liên quan đến việc hoàn thuế, miễn giảm, gia hạn thuế, chống trốn thuế và chuyển giá năm 2020, các cơ quan liên quan…; tăng cường triển khai các giải pháp thu thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại qua các sàn thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số. Xây dựng kế hoạch triển khai kết nối cung cấp thông tin cá nhân qua sàn giao dịch thương mại điện tử; chỉ đạo, triển khai các biện pháp tăng cường công tác quản lý hoàn thuế GTGT, tập trung những lĩnh vực, ngành nghề có rủi ro cao trong hoàn thuế, qua đó góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao.

Song song với đó, các cục thuế phân tích cụ thể từng địa bàn, khu vực, từng sắc thuế, tổng hợp báo cáo kịp thời kết quả thu, từ đó xác định các nguồn thu còn tiềm năng, các lĩnh vực, loại thuế còn thất thu để triển khai các giải pháp quản lý thu hiệu quả. Đối với gói giải pháp miễn, giảm thuế, Tổng cục Thuế tiếp tục theo dõi, kịp thời tham mưu cho Bộ Tài chính có phương án đánh giá tác động thu, xây dựng các kịch bản thu ngân sách phù hợp; đồng thời, tuyên truyền để các đối tượng thụ hưởng nhanh chóng tiếp cận chính sách hỗ trợ.

M.C

  • sao-thai-duong
  • bidv-5-goi-dich-vu-free
  • vietinbank
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL / DOJI HN lẻ 57,200 57,900
AVPL / DOJI HN buôn 57,200 57,900
AVPL / DOJI HCM lẻ 57,450 ▲100K 57,950
AVPL / DOJI HCM buôn 57,450 ▲100K 57,950
AVPL / DOJI ĐN lẻ 57,250 ▲50K 57,950 ▼50K
AVPL / DOJI ĐN buôn 57,250 ▲50K 57,950 ▼50K
Nguyên liêu 9999 - HN 50,750 50,950
Nguyên liêu 999 - HN 50,700 50,900
AVPL / DOJI CT lẻ 57,350 57,950
AVPL / DOJI CT buôn 57,350 57,950
Cập nhật: 20/10/2021 17:15
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - Bóng đổi 9999 0 0
TPHCM - PNJ 50.900 52.000
TPHCM - SJC 57.300 ▼50K 58.000
Hà Nội - PNJ 50.900 52.000
Hà Nội - SJC 57.350 ▼50K 57.950 ▼50K
Đà Nẵng - PNJ 50.900 52.000
Đà Nẵng - SJC 57.300 ▼50K 58.000
Cần Thơ - PNJ 50.900 52.000
Cần Thơ - SJC 57.300 ▼50K 58.000
Giá vàng nữ trang - Nhẫn PNJ (24K) 50.800 51.600
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 50.400 51.200
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 37.150 38.550
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 28.700 30.100
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.050 21.450
Cập nhật: 20/10/2021 17:15
AJC Mua vào Bán ra
Vàng trang sức 9999 5,005 5,145
Vàng trang sức 999 4,995 5,135
Vàng NT, TT Hà Nội, 3A 5,085 5,155
Vàng NL 9999 5,055 ▼25K 5,140 ▼40K
Vàng miếng SJC Thái Bình 5,730 ▲665K 5,800 ▲635K
Vàng miếng SJC Nghệ An 5,725 ▲640K 5,795 ▲640K
Vàng miếng SJC Hà Nội 5,735 ▲680K 5,795 ▲655K
Vàng NT, TT Thái Bình 5,080 ▼650K 5,180 ▼620K
Vàng NT, TT Nghệ An 5,075 ▼660K 5,175 ▼630K
Cập nhật: 20/10/2021 17:15
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 57,350 ▲50K 58,050 ▲50K
SJC 5c 57,350 ▲50K 58,070 ▲50K
SJC 2c, 1C, 5 phân 57,350 ▲50K 58,080 ▲50K
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 50,950 ▲50K 51,650 ▲50K
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 50,950 ▲50K 51,750 ▲50K
Nữ Trang 99.99% 50,550 ▲50K 51,350 ▲50K
Nữ Trang 99% 49,642 ▲50K 50,842 ▲50K
Nữ Trang 68% 33,071 ▲34K 35,071 ▲34K
Nữ Trang 41.7% 19,565 ▲21K 21,565 ▲21K
Cập nhật: 20/10/2021 17:15
BTMC Mua vào Bán ra
VÀNG MIẾNG VRTL 5,108 ▲4K 5,173 ▲4K
NHẪN TRÒN TRƠN 5,108 ▲4K 5,173 ▲4K
VÀNG MIẾNG SJC 5,736 5,794
VÀNG TRANG SỨC 5,050 ▲5K 5,160 ▲5K
99.9 (24k) 5,150 ▲5K
VÀNG HTBT 5,040 ▲5K
VÀNG NGUYÊN LIỆU 4,990 ▲5K
Cập nhật: 20/10/2021 17:15

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,566.08 16,733.42 17,258.23
CAD 17,944.49 18,125.75 18,694.23
CHF 24,022.50 24,265.15 25,026.18
CNY 3,493.25 3,528.53 3,639.75
DKK - 3,492.87 3,624.10
EUR 25,792.87 26,053.41 27,214.67
GBP 30,594.80 30,903.84 31,873.07
HKD 2,852.98 2,881.80 2,972.18
INR - 302.44 314.31
JPY 192.52 194.46 203.62
KRW 16.71 18.57 20.35
KWD - 75,363.88 78,322.29
MYR - 5,421.23 5,535.62
NOK - 2,669.10 2,780.49
RUB - 320.40 357.03
SAR - 6,051.61 6,289.17
SEK - 2,583.66 2,691.48
SGD 16,484.45 16,650.96 17,173.19
THB 601.69 668.55 693.66
USD 22,625.00 22,655.00 22,855.00
Cập nhật: 20/10/2021 17:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD 16,777 16,877 17,427
CAD 18,171 18,271 18,821
CHF 24,314 24,419 24,919
CNY - 3,517 3,627
DKK - 3,505 3,635
EUR #25,844 25,869 26,889
GBP 30,939 30,989 31,949
HKD 2,851 2,866 3,001
JPY 194.43 194.93 203.43
KRW 17.56 18.36 21.16
LAK - 1.55 2.5
NOK - 2,665 2,745
NZD 16,083 16,166 16,453
SEK - 2,613 2,663
SGD 16,469 16,569 17,169
THB 628.13 672.47 696.13
USD #22,633 22,653 22,853
Cập nhật: 20/10/2021 17:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
USD, (1,2) 22,453
USD, (5,10,20) 22,453
USD,50-100 22,643 22,663 22,853
JPY 195.61 195.38 204.40
AUD 16,553 16,782 17,384
CAD 17,967 18,188 18,791
GBP 30,720 30,967 31,870
CHF 24,120 24,369 24,972
SGD 16,587 16,678 17,279
EUR 25,962 26,165 27,168
CNY - 3,499 3,630
HKD - 2,796 2,997
THB 655 662 712
MYR - 5,397 5,551
KRW - 23.00
Cập nhật: 20/10/2021 17:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 22,655 22,655 22,855
USD(1-2-5) 22,453 - -
USD(10-20) 22,610 - -
GBP 30,701 30,886 31,949
HKD 2,870 2,890 2,963
CHF 24,101 24,247 25,002
JPY 194.88 196.06 203.8
THB 646.26 652.79 709.95
AUD 16,676 16,777 17,283
CAD 18,021 18,130 18,710
SGD 16,580 16,680 17,170
SEK - 2,600 2,678
LAK - 1.89 2.34
DKK - 3,509 3,611
NOK - 2,683 2,764
CNY - 3,508 3,611
RUB - 290 371
NZD 16,051 16,148 16,479
KRW 17.37 - 21.15
EUR 26,050 26,121 27,130
TWD 738.91 - 836.22
MYR 5,125.25 - 5,606.11
Cập nhật: 20/10/2021 17:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 22,655.00 22,675.00 22,855.00
EUR 26,105.00 26,210.00 26,761.00
GBP 30,925.00 31,112.00 31,702.00
HKD 2,876.00 2,888.00 2,968.00
CHF 24,242.00 24,339.00 24,933.00
JPY 195.74 196.53 200.70
AUD 16,686.00 16,753.00 17,275.00
SGD 16,685.00 16,752.00 17,087.00
THB 659.00 662.00 700.00
CAD 18,162.00 18,235.00 18,619.00
NZD 0.00 16,069.00 16,516.00
KRW 0.00 18.46 20.26
Cập nhật: 20/10/2021 17:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 22.652 22.662 22.864
AUD 16.846 16.946 17.452
CAD 18.229 18.329 18.736
CHF 24.410 24.510 24.923
EUR 26.254 26.354 26.808
GBP 31.166 31.266 31.671
JPY 196,43 197,93 202,84
SGD 16.730 16.830 17.133
Cập nhật: 20/10/2021 17:15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
GOLD 5,726,000 5,726,000 5,784,000
USD(50,100) 22,654 22,674 23,129
USD(5, 10, 20) 22,634 22,674 23,129
USD(1,2) 22,634 22,674 23,129
EUR 26,165 26,265 26,780
GBP 30,980 31,080 31,789
JPY 195.52 196.52 201.61
CAD 18,012 18,062 19,718
AUD 16,704 16,804 17,310
SGD 16,607 16,707 17,217
CNY
THB
CHF
KRW
Cập nhật: 20/10/2021 17:15
  • pvgas-inside
  • pvgas