Kiến tạo giá trị thông tin trong lĩnh vực báo chí viết về tội phạm
1. Đặt vấn đề
Từ ngày 26/9/2026, Nghị định 367/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí bắt đầu có hiệu lực.
Tại chương II, Nghị định quy định xử lý 19 nhóm hành vi vi phạm (từ Điều 11 đến Điều 29). Trong đó, hành vi miêu tả tỉ mỉ hành vi tội ác trong các tin, bài, ảnh đăng, phát trên báo chí, bản tin, đặc san (điểm a Điều 14) sẽ bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
Lịch sử dòng báo chí tội phạm trên thế giới cũng như thực tiễn nhu cầu tiếp cận thông tin của công chúng tại Việt Nam cho thấy lĩnh vực nội dung thông tin về tội phạm trên báo chí có sức hấp dẫn cao. Báo chí về tội phạm đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng về một khía cạnh đời sống bất thường, đưa họ vào một thế giới, về cơ bản, không phổ biến đối với họ, khiến họ vừa khiếp sợ, vừa tò mò muốn tìm hiểu. Nhưng mặt khác, tự thân thông tin vụ án đã chứa đựng trong đó những yếu tố man rợ, giật gân. Chính những mâu thuẫn nội tại đó hàm chứa trong báo chí viết về tội phạm trên thực tế tác nghiệp đã thực sự là thách thức đối với các nhà báo trong việc thực thi các nguyên tắc của thông tin báo chí.
Nhà báo có thể gặp khó khăn trong nhiều khâu của quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí để báo chí viết về tội phạm vừa đảm bảo tính khách quan, trung thực lại vừa không sa đà vào việc miêu tả tỉ mỉ hành vi tội ác; vừa thỏa mãn nhu cầu thông tin của công chúng vừa không gây tổn thương cho họ và các nhân vật có liên quan trong câu chuyện tin tức. Trong khi đó, các hướng dẫn thực hành tác nghiệp báo chí truyền thông để giải quyết mâu thuẫn nội tại này tại Việt Nam dường như còn ít ỏi.
Bài viết này nhằm đưa ra một số khuyến nghị dành cho tác nghiệp báo chí truyền thông trong lĩnh vực thông tin về tội phạm để vừa bảo đảm nhu cầu thông tin của công chúng vừa không vi phạm các hành vi được quy định tại điểm a Điều 14 Nghị định 367/2026/NĐ-CP.
2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu một số giáo trình, sách, bài báo... nhằm hệ thống hóa một số vấn đề lý luận báo chí nói chung có liên quan đến tác động của thông điệp truyền thông tới công chúng. Đồng thời, tác giả kế thừa những kết quả nghiên cứu trước, phục vụ cho việc so sánh, đối chiếu và làm sáng tỏ vấn đề trong bài báo.
Phương pháp phân tích nội dung: Phương pháp này được sử dụng để phân tích nội dung thông điệp về tội phạm, từ đó làm rõ phương pháp tác nghiệp báo chí trong lĩnh vực tội phạm nhằm đảm bảo tính ích lợi của thông tin đối với công chúng.
Các phương pháp so sánh, tổng hợp được áp dụng ở bước cuối nhằm liên kết các kết quả phân tích, hình thành các luận điểm khuyến nghị phương pháp thực hành tác nghiệp báo chí trong lĩnh vực báo chí về tội phạm.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Mô hình truyền thông của Lasswell (1948) và Claude Shannon (1949) được coi là một trong những mô hình truyền thông phổ biến nhất, đã chỉ ra con đường hình thành và tác động của thông tin tới công chúng.
Mô hình truyền thông của Lasswell gồm các yếu tố sau: bắt đầu từ nguồn phát (Sender - chủ thể truyền thông), thông điệp (Message) được mã hóa sẽ truyền tải các kênh truyền thông (Chanel) đến với người tiếp nhận thông điệp (Receive). Đây là mô hình truyền thông đơn giản nhưng khi cần chuyển tải những thông tin khẩn cấp thì rất thuận lợi. Tuy nhiên, mô hình này là mô hình một chiều vì nó chưa đề cập đến thông tin phản hồi từ đối tượng tiếp nhận, mặc dù đây là một yếu tố quan trọng nhằm tăng cường hiệu quả truyền thông.
Mô hình truyền thông của Claude Shannon đã khắc phục nhược điểm của mô hình truyền thông Lasswell khi nhấn mạnh vai trò quan trọng của thông tin phản hồi từ đối tượng tiếp nhận, thể hiện rõ hơn sự tương tác giữa chủ thể và khách thể truyền thông. Đồng thời, mô hình này còn chú ý đến yếu tố nhiễu trong quá trình truyền thông và hiệu quả truyền thông - tức là hiệu ứng xã hội được tạo ra phù hợp với mong đợi của chủ thể truyền thông. Hay nói một cách khác, đây chính là mục đích trên thực tế của hoạt động truyền thông [1]
Nhiều bàn luận cho rằng, hiệu quả của truyền thông đại chúng thể hiện ở những cấp độ khác nhau. Trong đó, hiệu quả tiếp nhận là cấp độ thấp nhất đánh giá tác động của truyền thông đại chúng đối với xã hội, cho dù đó là điều kiện đầu tiên để dẫn tới các cấp độ hiệu quả sau. Dewey (1927, trích lại của Nguyễn Minh Nguyệt, 2008) khẳng định "nếu công chúng không đọc/xem sản phẩm truyền thông thì sản phẩm đó cuối cùng cũng chỉ là vật được bày trong góc thư viện”.
Mức độ thứ hai của hiệu quả truyền thông là hiệu ứng xã hội. Tức là những biểu hiện của xã hội hình thành do tác động của thông tin từ truyền thông. Đó có thể là phản ứng tâm lý, trạng thái tình cảm, những thay đổi về cách ứng xử, thậm chí là những phản ứng, hành vi xã hội rộng lớn trở thành những phong trào, những chuyển động ở nhiều khâu, nhiều mối quan hệ trong phạm vi rộng lớn hơn.
Song việc thay đổi nhận thức, thái độ và điều chỉnh hành vi của công chúng - nhóm đối tượng theo hướng phù hợp với sự phát triển mới là mức độ cao nhất của hiệu quả truyền thông. Nói một cách khái quát, đó là những vận động tạo nên sự biến đổi về số lượng, chất lượng của các tiến trình, các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Phân tích từ mô hình cơ chế tác động của truyền thông đại chúng, tác giả Nguyễn Văn Dững đánh giá, việc góp phần làm thay đổi nhận thức của công chúng xã hội là yêu cầu đầu tiên và là tiền đề quan trọng nhất của hoạt động báo chí truyền thông. Làm cho nhận thức của công chúng từ chưa đúng đến đúng đắn hơn, từ nông đến sâu, từ khác biệt đến tương đồng… và cuối cùng là thống nhất nhận thức để hình thành niềm tin, ý chí làm cơ sở cho hành động của đông đảo quần chúng, giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển [2]. Vai trò của truyền thông đại chúng trong việc định hình dư luận, văn hóa và cung cấp thông tin cho xã hội ngày càng được các học giả nhấn mạnh.
Soi chiếu vào lĩnh vực nội dung thông tin về tội phạm trên báo chí, có thể xác định hiệu quả thông tin không chỉ ở khả năng báo chí cung cấp tri thức về các biểu hiện của hành vi phạm tội mà còn ở khả năng tác động định hướng nhận thức, thái độ của công chúng. Theo đó, thông tin báo chí cần góp phần giúp công chúng nhận diện và phân biệt được các hành vi vi phạm pháp luật, nguy hiểm đối với xã hội, từ đó hình thành thái độ lên án, không dung thứ, không thỏa hiệp với tội phạm; đồng thời củng cố niềm tin vào tính nghiêm minh, công bằng của luật pháp. Ở mức độ cao hơn, hiệu quả thông tin còn được thể hiện qua khả năng thúc đẩy công chúng nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội, tích cực tham gia phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi những người làm báo phản ánh sự thật một cách trần trụi, coi tất cả những thông tin trong tác phẩm báo chí của mình đều "vô tư và chân thật” thì đó là quan niệm sai lầm, chủ quan và siêu hình. Nhà báo chân thật nhưng đó là ”chân thật hồn nhiên” chưa đạt đến trình độ khách quan khoa học. Khi xem xét tác phẩm báo chí từ góc độ ngữ nghĩa, có thể thấy các cấp độ khác nhau của thông tin và theo đó, không chỉ dừng ở "mô tả”, cấp độ cao hơn của thông tin phải là ”phân tích” rồi ”hướng dẫn” công chúng, tác động vào chiều sâu của nhận thức để làm cơ sở cho việc xác định phương hướng và phương pháp hành động. Vì thế, tác động tiêu cực của những thông tin độc hại sẽ không chỉ dừng ở cá nhân công chúng tiếp nhận mà sẽ gây hoang mang trong cộng đồng, sẽ vẽ lên một bức tranh xã hội nhiều đen tối, xấu xa [10].
Vấn đề này còn được phân tích trong một nghiên cứu của tác giả Mai Quỳnh Nam (1996) về "Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội”, tác giả đã đưa ra quan điểm về mối quan hệ biện chứng giữa báo chí và công chúng trong quá trình hình thành và thể hiện dư luận xã hội. Tác giả đã phân tích cơ chế hình thành và thể hiện dư luận xã hội thông qua tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng, theo đó, một trong những tính chất khiến cho thông tin báo chí trở thành điểm khởi đầu cho việc đánh giá của dư luận xã hội, đó là: "nó phải phản ánh được lợi ích xã hội", là "tính khách quan và chân thực của nội dung thông tin". Đây chính là các nguyên tắc cơ bản của hoạt động báo chí, để mục đích cuối cùng của thông tin báo chí là vì con người [6].
Cũng tiếp cận ở góc độ này, nhưng đề cập cụ thể hơn về "lợi ích xã hội” mà báo chí truyền thông mang lại cho công chúng, tác giả Đỗ Chí Nghĩa (2012) trong cuốn "Vai trò của báo chí trong định hướng dư luận xã hội”, bác bỏ quan điểm cho rằng: báo chí chỉ cần thông tin là đủ còn công chúng tự định hướng xem họ phải làm gì. Theo tác giả, báo chí không được phép thông tin hồn nhiên, đáp ứng nhu cầu chạy theo tin nóng mà quan trọng hơn là phải xác định bạn đọc có lợi ích gì từ những thông tin ấy. Việc định hướng dư luận xã hội phải bắt đầu từ việc báo chí chọn thông tin nào để đưa [7].
Đối với báo chí về tội phạm đây là yêu cầu tối cần thiết để góp phần đảm bảo hiệu quả truyền thông. Từ hồ sơ điều tra của các cơ quan thực thi pháp luật đến thông điệp truyền thông, các thông tin phải trải qua quá trình chọn lọc, xử lý bằng nghiệp vụ báo chí thông qua các nguyên tắc căn cốt của thông tin mà các nghiên cứu về báo chí truyền thông đã chỉ ra. Hồ sơ điều tra phục vụ cho mục đích bắt giữ, truy tố, xét xử người có hành vi phạm tội nên phải đảm bảo các yếu tố chính xác - đặc biệt là mô tả, phân tích các hành vi của kẻ phạm tội đúng như trên thực tế đã xảy ra, cho dù man rợ đến mức nào - nhằm để chứng minh tội phạm, định khung, định tội theo quy định pháp luật.
Còn thông điệp truyền thông nhằm mục đích giáo dục pháp luật cho công chúng thì các bài học rút ra từ các vụ án không nhất thiết phải được hình thành từ những chi tiết man rợ như nó vốn xảy ra trên thực tế. Giá trị cơ bản của tin tức được tạo nên bởi “tính ích lợi” của thông tin. “Phản ánh hiện thực khách quan” là đặc tính quan trọng của phản ánh nhưng không phải là duy nhất mà cùng với đó là “phản ánh có chọn lọc” và “phản ánh phải có tính tự giác”.
Chính bởi thế, báo chí bảo đảm tính khách quan, chân thật nhưng lại không cần và không nhất thiết phải thông tin tất cả những chi tiết man rợ đã xảy ra hoặc tất thảy những gì mà nhà báo thu thập được. Nhà báo phải biết loại bỏ những thông tin gây phản cảm, không phù hợp với chuẩn mực văn hóa cộng đồng, làm tổn thương công chúng hoặc ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của những người có liên quan. Khai thác, nhấn mạnh, mô tả chi tiết những hành vi tội phạm, thông tin báo chí chỉ dừng ở cấp độ mô tả mà chưa thể chạm tới cấp độ phân tích - khái quát - định hướng. Trong trường hợp này báo chí không những không đem lại ích lợi gì cho công chúng mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực.
Nghiên cứu "Những vụ thảm án qua góc nhìn truyền thông: Bài học cho phát triển con người” của tác giả Nguyễn Thành Lợi (2019) đã bác bỏ quan điểm cho rằng, đăng tải về các hành vi phạm tội là một cách "điều hòa xã hội của báo chí”, nhằm mục đích "giáo dục công chúng”, "làm giảm thiểu tỷ lệ phạm tội”. Trên cơ sở "Lý thuyết giáo hóa”, tác giả Nguyễn Thành Lợi chứng minh những ảnh hưởng tiêu cực "không thể ngờ tới” từ mục đích tích cực kia. Thậm chí, "còn dẫn đến nhiều hành vi phạm pháp hơn” bởi "tâm lý muốn mô phỏng” những hành vi phạm tội được đăng tải trên truyền thông [4].
Dẫn chiếu trường hợp vụ án Nguyễn Đức Anh, thủ phạm 21 tuổi ở Đồng Nai đột nhập vào nhà một gia đình không quen biết, vô cớ ra tay tàn sát 4 người, khiến 3 người bị tử vong, 1 người bị thương nặng được phản ánh trên Báo Tuổi trẻ cho thấy, Toà soạn đã chú trọng đến tính ích lợi của thông tin thể hiện qua công tác tổ chức nội dung thông tin, lựa chọn cách tiếp cận. Theo thông tin điều tra, khi bị người yêu chia tay, Nguyễn Đức Anh đã tìm cách trả thù. Đêm xảy ra vụ án, thủ phạm mang dao tìm cách đột nhập nhà cô gái, sau đó sang căn nhà kế bên và gây ra thảm kịch. Trong 2 ngày (3 và 4/9/2026), Báo Tuổi trẻ xuất bản 6 tin bài. Trong đó, ngay trong ngày đầu tiên xảy ra vụ án (ngày 3/9/2026), cùng với 4 tin bài thông tin vụ việc, tờ báo này đã xuất bản bài phân tích dưới góc độ tâm lý học về nghệ thuật kiểm soát cảm xúc, để từ đó rút ra khuyến cáo rằng, người trẻ không chỉ cần học cách yêu mà còn còn cần phải học cách chia tay [9].
Chưa đầy 24 giờ sau, ngày 4/9/2026, Báo Tuổi trẻ tiếp tục cho đăng tải bài viết dựa trên thông tin từ cuộc trao đổi của phóng viên với TS Lê Nguyên Thanh, một chuyên gia từng có kinh nghiệm nghiên cứu trong lĩnh vực tội phạm học. Bài viết không chỉ lý giải nguyên nhân phạm tội của hung thủ Nguyễn Đức Anh mà còn cung cấp cho công chúng những kỹ năng cần thiết để kiểm soát cân bằng cảm xúc, tránh bị dồn nén quá lâu, có phương pháp giải tỏa cảm xúc; đồng thời biết cách tránh xa người nóng giận đang mất kiểm soát [5]. Trường hợp dẫn chiếu từ báo Tuổi trẻ cho thấy, ngay cả những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, vốn hội tụ nhiều yếu tố có khả năng tạo sự hấp dẫn và thu hút sự chú ý của công chúng theo kiểu tình - tiền - tù - tội, báo chí vẫn có thể lựa chọn phương thức tiếp cận, khai thác thông tin theo hướng hạn chế những thông tin ở cấp độ miêu tả. Thay vào đó, thông tin được tổ chức và truyền tải theo hướng phân tích, khái quát, định hướng đề cao giá trị sử dụng, đáp ứng nhu cầu nhận thức của công chúng, qua đó đảm bảo tính ích lợi của thông tin báo chí.
Trường hợp tương tự đối với An ninh Thế giới Tuần, một ấn phẩm chuyên đề của Tạp chí Văn hóa Văn nghệ Công an (thời kỳ 1996-2003) và của Báo Công an Nhân dân (từ 2003 đến nay). Khai thác đề tài có tính chất chuyên biệt là thông tin về tội phạm, Chuyên đề An ninh Thế giới Tuần đã chọn cách tiếp cận từ những thân phận con người. Trong đó, con người phạm tội được báo chí tiếp cận theo hướng không tách rời hành vi phạm tội với các yếu tố liên quan như điều kiện sinh sống của họ, bối cảnh, động cơ gây án, hoàn cảnh gia đình trước khi phạm tội… Khi con người được báo chí đặt trong rất nhiều những mối liên hệ như thế để phân tích, những vấn đề có tính xã hội sẽ được làm sáng tỏ.
Cách tiếp cận này không chỉ nhằm hạn chế xu hướng giật gân câu khách trong đưa tin về tội phạm, khắc phục tình trạng phản ánh sự việc một cách trần trụi, phản cảm, thiếu chọn lọc và chỉ dừng lại ở việc mô tả hành vi phạm tội. Quan trọng hơn, thông qua quá trình lựa chọn xử lý và tổ chức thông tin, chủ thể truyền thông chuyển hóa các tình tiết vụ án từ dữ liệu thô thành thông tin có giá trị nhận thức và định hướng hành vi đối với công chúng. Theo đó tác phẩm báo chí không đơn thuần tái hiện diễn biến của vụ án mà còn góp phần hình thành nhận thức về hậu quả của hành vi phạm tội, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và định hướng những chuẩn mực ứng xử phù hợp trong đời sống xã hội.
Trên thực tế thông điệp cảnh báo và răn đe trong các tác phẩm báo chí về tội phạm có thể được truyền tải thông qua nhiều phương thức khác nhau. Một mặt nhà báo có thể tập trung khắc họa những hậu quả và hệ lụy của vụ án, từ đó làm nổi bật tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội và rút ra những bài học mang tính cảnh báo. Mặt khác việc phân tích nguyên nhân, động cơ và những yếu tố dẫn đến hành vi phạm tội có thể giúp công chúng nhận diện các nguy cơ tiềm ẩn, nâng cao năng lực đánh giá tình huống và rút ra bài học về ứng xử trong các mối quan hệ xã hội. Những phương thức tác động này có thể được nhận diện qua nhiều tác phẩm báo chí về tội phạm đăng tải trên Chuyên đề An ninh Thế giới Tuần như tuyến bài về vụ án Vũ Xuân Trường (1996-1997) của tác giả Nguyễn Như Phong [8]; về con đường sa ngã và góc khuất số phận của đối tượng gây ra vụ án chặt tay bị hại để cướp túi xách Hồ Duy Trúc trong loạt bài “Những mùa hoa không nở” (2014) của tác giả Nguyễn Hồng Lam [3]…
4. Một số khuyến nghị để bảo đảm tính ích lợi của thông tin báo chí về tội phạm
- Thứ nhất, báo chí cần bảo đảm phản ánh đầy đủ, chính xác các chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tiêu chí này nhấn mạnh tính cân bằng giữa nội dung thông tin về các hành vi phạm tội với nội dung phản ánh các chủ trương biện pháp phòng ngừa, đấu tranh trấn áp và xử lý tội phạm. Điều này không chỉ góp phần cung cấp cho công chúng cái nhìn toàn diện về thực trạng tội phạm và nỗ lực của các cơ quan chức năng trong việc bảo vệ trật tự an toàn xã hội mà còn phát huy vai trò định hướng nhận thức, hành vi của báo chí. Thông qua việc phổ biến, giải thích và làm rõ các ý nghĩa của các quy định pháp luật cũng như hiệu quả của các biện pháp phòng chống tội phạm, báo chí góp phần củng cố ý thức thượng tôn pháp luật, nâng cao trách nhiệm công dân và thúc đẩy việc tôn trọng các chuẩn mực giá trị được xã hội thừa nhận.
- Thứ hai, bảo đảm tính thời sự. Tiêu chí này nhằm đảm bảo cho các thông tin về vấn đề tội phạm đáp ứng được nhu cầu được tiếp cận thông tin của công chúng một cách nhanh nhất, tránh được những đồn đoán thất thiệt, gây hoang mang trong dư luận.
- Thứ ba, thông tin phải chính xác, khách quan. Đối với các chi tiết trong sự kiện, báo chí cần phải lựa chọn đúng những chi tiết nói lên bản chất của sự kiện. Việc lựa chọn đúng sự kiện, đúng chi tiết để đưa vào tác phẩm giúp báo chí viết về tội phạm tránh được tình trạng sa đà vào mô tả hành vi có tính chất giật gân, mang tính chất giật gân, câu khách, gây phản cảm đối với công chúng.
- Thứ tư, báo chí phải phân tích được nguyên nhân và cách phòng chống tội phạm. Tiêu chí này nhằm đảm bảo thông tin về vấn đề tội phạm phải có tính giáo dục, định hướng dư luận. Khi phản ánh các vụ phạm tội, báo chí không chỉ thông tin đơn thuần mà phải phân tích nguyên nhân, điều kiện xảy ra tội phạm để từ đó rút ra bài học cảnh báo các thủ đoạn mới của tội phạm và cách thức phòng ngừa tội phạm. Tiêu chí này đồng thời nhằm tránh đi những khuynh hướng "giật gân, câu khách", đưa thông tin về tội phạm một cách trần trụi, phản cảm, thiếu chọn lọc.
5. Kết luận
Tội phạm là một chủ đề quan trọng của báo chí, đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng về một lĩnh vực nội dung mà công chúng quan tâm. Lý luận báo chí cũng như thực tiễn thực hành, tác nghiệp báo chí cho thấy, khuynh hướng mô tả tội phạm một cách trần trụi khiến cho các bài viết về chủ đề này không chỉ không đảm bảo tính ích lợi của thông tin mà còn có tác động xấu với công chúng. Sự giản đơn trong lao động báo chí là một trong những nguyên nhân khiến trong các tin bài, các tác giả chú trọng thông tin miêu tả mà thiếu chú trọng thông tin phân tích, lý giải, định hướng công chúng, rút ra những bài học giáo dục, cảnh báo nhằm đem lại những thông tin có giá trị cho công chúng. Một số khuyến nghị trong bài viết này hy vọng sẽ là những gợi mở có ích trong việc sử dụng các kỹ năng nghiệp vụ báo chí tại các khâu tiếp cận, xử lý thông tin đối với lĩnh vực báo chí viết về tội phạm hiện nay.
|
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
|
Tiến sĩ Đặng Thị Huyền
Khoa Truyền thông số, Trường Công nghệ số liên ngành, Đại học Phenikaa

