Không lo hàng hóa “phi mã” trong dịp tết

07:00 | 11/12/2013

1,832 lượt xem
|
Cuối năm thường là thời điểm các loại hàng hóa bị “làm giá” chờ tết. Trước lo ngại này của người dân, tại cuộc họp báo thường kỳ do Bộ Công Thương tổ chức vừa qua, đại diện Bộ Công Thương cho biết: “Bộ Công Thương đã chỉ đạo các địa phương, ngành hàng thực hiện nghiêm việc dự trữ cung ứng hàng hóa để đảm bảo giá cả không tăng đột biến trong dịp tết Nguyên đán sắp tới”.

Doanh nghiệp chủ động dự trữ hàng hóa

Theo đánh giá của Vụ Thị trường trong nước, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội tháng 11 ước đạt 226,4 nghìn tỉ đồng, giảm 0,2% so với tháng 10; tính chung 11 tháng ước đạt 2.386,1 nghìn tỉ đồng, tăng 12,56% so với cùng kỳ (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tốc độ tăng trưởng là 5,54%).

Đáng chú ý, chỉ số tồn kho trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/11 tăng 9,4% so với cùng thời điểm năm 2012. Trong đó, một số ngành tuy có tốc độ tăng trưởng cao nhưng chỉ số tồn kho lớn như: Chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa tăng 69,9%; sản xuất đồ uống tăng 20,8%; sản xuất hàng may sẵn (trừ trang phục) tăng 20,3%; sản xuất giày, dép tăng 2,1 lần…

Đặc biệt sản phẩm điện tử dân dụng tồn kho tăng 83,8%, môtô, xe máy tăng 84%.

Tồn kho trong sản xuất một số sản phẩm ước đến hết tháng 11/2013 như: Than tiêu chuẩn tồn hơn 6,47 triệu tấn; thép các loại gần 300 nghìn tấn; giấy khoảng 22,1 nghìn tấn; phân bón tồn 880 nghìn tấn.

Trước lo ngại giá cả hàng hóa tháng cuối năm sẽ bị “đẩy” lên cao, ông Nguyễn Xuân Chiến, Vụ phó Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) trấn an, chắc chắn giá cả các mặt hàng thiết yếu sẽ không tăng đột biến.

(Ảnh minh họa).

Điều khiến lãnh đạo Bộ Công Thương tự tin rằng giá cả hàng hóa dịp cuối năm sẽ không tăng “phi mã” là do nhiều địa phương đã tích cực thực hiện chương trình bình ổn giá một số mặt hàng thiết yếu. Chương trình thực sự trở thành công cụ điều tiết giá một cách hữu hiệu, khẳng định được vai trò định hướng giá các mặt hàng thiết yếu, góp phần kiểm soát và hạn chế đầu cơ, tăng giá đột biến và bình ổn thị trường những tháng cuối năm.

Đáng nói, nếu trước đây các địa phương, doanh nghiệp (DN) trông chờ ngân sách Nhà nước rót về mới thực hiện chương trình bình ổn giá, thì nay các địa phương đã chủ động lên phương án dự trữ hàng tết.

“Đến nay đã có gần 30 tỉnh, thành phố gửi báo cáo về dự trữ hàng hóa tết dịp cuối năm. Chắc chắn sẽ không có sự đột biến nào về giá” - Vụ phó Vụ Thị trường trong nước khẳng định.

Hàng hóa đang “nhìn” nhau điều chỉnh

Tuy nhiên, UBND TP Hà Nội lại cho rằng, một số mặt hàng có khả năng tăng giá trong dịp tết Nguyên đán 2014 như nhóm hàng lương thực, hàng thực phẩm và nhóm hàng rau, củ, quả do nhu cầu tiêu dùng tăng cao.

Ông Nguyễn Văn Sửu, Phó chủ tịch UBND TP Hà Nội cho hay, thông thường, thời gian trước trong và sau tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng tăng 15-18% so với các tháng bình thường trong năm, tập trung vào một số nhóm hàng thiết yếu phục vụ tết như lương thực, thực phẩm, bánh mứt kẹo, nước giải khát. Dự kiến, tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ trong tháng tết Giáp Ngọ khoảng 38.000 tỉ đồng.

Do đó, mặt bằng giá cả một số nhóm hàng thiết yếu có thể tăng. Cụ thể, nhóm hàng lương thực (chủ yếu là gạo), đầu năm 2013 tình hình cung cầu tương đối ổn định nhưng đến tháng 10, 11, do miền Bắc vào thời điểm giáp hạt nên nguồn cung hạn chế, các tiểu thương thu gom gạo xuất sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch và do ảnh hưởng của cơn bão số 14 nên giá bán tăng 5-10%. Hiện giá bán mặt hàng gạo đã ổn định nhưng dự kiến sẽ tăng trong dịp tết do nhu cầu tiêu dùng gạo ngon, gạo nếp tăng cao.

Nhóm hàng thực phẩm nhất là thịt lợn, thịt gà dự kiến cũng tăng khoảng 5 đến 10%. Nhóm hàng rau, củ, quả, mặc dù thời điểm cuối tháng 10, đầu tháng 11 đã giảm (khoảng 8%) so với tháng 7 (do có nhiều biến động như bão liên tiếp xảy ra trên diện rộng ảnh hưởng đến nguồn cung) nhưng thời điểm trước và sau tết nhu cầu tiêu dùng tăng nên giá mặt hàng rau sẽ vẫn giữ ở mức cao.

Trên thực tế, khảo sát thị trường trong những ngày này, giá thực phẩm, rau xanh tại Hà Nội bắt đầu tăng. Cụ thể, thịt nạc vai, nạc mông 95.000 đồng/kg; sườn thăn 100.000 đồng/kg; thịt ba chỉ 80.000-85.000 đồng/kg… tăng từ 5.000 - 10.000 đồng/kg so với trước đó. Tương tự, với mặt hàng rau xanh, giá rau đã tăng thêm 15-20% so với tuần trước. Rau mồng tơi 4.000 đồng/mớ; rau đay 3.000 đồng/mớ; cải ngọt 12.000 đồng/kg; súp lơ trắng nhỏ 9.000 đồng/cái, súp lơ trắng to 12.000 đồng/cái…

Tiểu thương cho biết, do thời tiết lạnh nên rau xanh không phát triển được, ảnh hưởng tới nguồn cung. Bên cạnh đó, giá thực phẩm cũng tăng theo quy luật khi bước vào các tháng cuối năm.

Hay thị trường bánh kẹo phục vụ tết năm nay cũng đã có thông tin “giá tăng nhẹ” từ chính các DN.

Dù giá nguyên liệu làm bánh năm nay không tăng, trong khi kinh tế còn nhiều khó khăn, dự đoán sức mua còn thấp nhưng đại diện các DN bánh kẹo cho biết giá sẽ “tăng nhẹ”.

Tăng nhẹ 1-2% là mức mà Công ty Kinh Đô đưa ra trong mùa tết Nguyên đán tới. Bibica tăng mạnh hơn, khoảng 10% so với năm ngoái. Mặc dù dự đoán nhu cầu không cao nhưng các DN vẫn tăng sản lượng phục vụ tết.

Giá gas thất thường và hệ lụy

Dư luận đang bức xúc quanh việc giá gas bán lẻ đầu tháng 12 đột ngột tăng tới 80.000 đồng/bình 12kg, đẩy giá bán lẻ mặt hàng này tới tay người tiêu dùng tới 480.000 đồng/bình 12 kg. Giá gas tăng, người dân lo ngại các mặt hàng sẽ “té nước tăng theo gas”.

Ngoài việc có thể ảnh hưởng tới một số mặt hàng dịch vụ ăn uống thì việc giá gas tăng “sốc” khiến người tiêu dùng có thể quay lưng với mặt hàng khí đốt này.

Tuy nhiên, việc tăng giá gas bán lẻ trong nước theo ông Nguyễn Xuân Chiến là không thể đừng  bởi mặt hàng này phụ thuộc vào giá thế giới, tăng 267,5USD/tấn, mức tăng cao nhất kể từ tháng 2/2011: “Hiện gas trong nước phải nhập khẩu hơn 50% nên giá thế giới biến động, buộc giá trong nước phải điều chỉnh theo”.

Để “kìm” giá mặt hàng này, Bộ Công Thương đồng tình với quan điểm của Hiệp hội Gas đề xuất là nên giảm thuế nhập khẩu gas từ 5% xuống còn 0%. Đồng thời, Bộ sẽ phối hợp với Cục Quản lý Thị trường rà soát, kiểm tra các cấu thành giá của các doanh nghiệp đầu mối để “siết” lại mặt hàng này. Nếu phát hiện sai phạm sẽ xử lý thật nghiêm minh, tránh hiện trượng trục lợi, đầu cơ tăng giá.

Bộ Công Thương cũng khẳng định, mặt hàng gas là mặt hàng bình ổn giá, không phải doanh nghiệp gas muốn tăng giá bao nhiêu cũng được, mà phải tuân theo Nghị định 107 về quản lý giá: “Mặt hàng gas trong nước cứ 6 tháng tổ chức đấu giá một lần giữa các doanh nghiệp có quyền kinh doanh xuất nhập khẩu gas theo quy định của Bộ Tài chính. Dù là doanh nghiệp lớn chiếm thị phần lớn nhưng không phải cứ muốn quyết giá nào cũng được mà phải tuân thủ Luật Giá”.

Khảo sát sau 2 ngày giá gas tăng thấy, các dãy nhà trọ dành cho người thu nhập thấp và sinh viên trên địa bàn Hà Nội đã xuất hiện rất nhiều bếp than tổ ong. Điều này cho thấy, người dân đang quay lưng với gas bởi mức giá tăng quá “sốc” mới đây.

Phương Vũ

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 121,500 123,500
AVPL/SJC HCM 121,500 123,500
AVPL/SJC ĐN 121,500 123,500
Nguyên liệu 9999 - HN 10,950 11,050
Nguyên liệu 999 - HN 10,940 11,040
Cập nhật: 03/08/2025 13:45
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 117,000 119,500
Hà Nội - PNJ 117,000 119,500
Đà Nẵng - PNJ 117,000 119,500
Miền Tây - PNJ 117,000 119,500
Tây Nguyên - PNJ 117,000 119,500
Đông Nam Bộ - PNJ 117,000 119,500
Cập nhật: 03/08/2025 13:45
AJC Mua vào Bán ra
Trang sức 99.99 11,420 11,870
Trang sức 99.9 11,410 11,860
NL 99.99 10,880
Nhẫn tròn ko ép vỉ T.Bình 10,880
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 11,630 11,930
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 11,630 11,930
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 11,630 11,930
Miếng SJC Thái Bình 12,150 12,350
Miếng SJC Nghệ An 12,150 12,350
Miếng SJC Hà Nội 12,150 12,350
Cập nhật: 03/08/2025 13:45
SJC Mua vào Bán ra
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,215 12,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,215 12,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,165 119
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,165 1,191
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,165 1,184
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 112,728 117,228
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 82,059 88,959
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 7,377 8,067
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 65,481 72,381
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 62,284 69,184
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 42,628 49,528
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,215 1,235
Cập nhật: 03/08/2025 13:45

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 16438 16706 17293
CAD 18468 18745 19371
CHF 31936 32317 32976
CNY 0 3570 3690
EUR 29720 29992 31034
GBP 33990 34380 35325
HKD 0 3207 3410
JPY 171 175 181
KRW 0 17 19
NZD 0 15192 15780
SGD 19789 20071 20602
THB 722 785 839
USD (1,2) 25937 0 0
USD (5,10,20) 25977 0 0
USD (50,100) 26006 26040 26390
Cập nhật: 03/08/2025 13:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,030 26,030 26,390
USD(1-2-5) 24,989 - -
USD(10-20) 24,989 - -
GBP 34,203 34,295 35,157
HKD 3,280 3,290 3,389
CHF 31,851 31,950 32,748
JPY 170.97 171.28 178.49
THB 761.95 771.36 825.2
AUD 16,596 16,656 17,122
CAD 18,599 18,659 19,193
SGD 19,825 19,886 20,550
SEK - 2,635 2,726
LAK - 0.92 1.28
DKK - 3,950 4,085
NOK - 2,496 2,583
CNY - 3,588 3,685
RUB - - -
NZD 15,074 15,214 15,654
KRW 17.24 17.98 19.41
EUR 29,551 29,574 30,762
TWD 790.05 - 956.39
MYR 5,727.8 - 6,459.09
SAR - 6,870.41 7,230.69
KWD - 83,348 88,641
XAU - - -
Cập nhật: 03/08/2025 13:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,010 26,020 26,360
EUR 29,331 29,449 30,567
GBP 33,972 34,108 35,089
HKD 3,271 3,284 3,390
CHF 31,642 31,769 32,662
JPY 169.85 170.53 177.65
AUD 16,523 16,589 17,127
SGD 19,838 19,918 20,457
THB 778 781 816
CAD 18,581 18,656 19,174
NZD 15,174 15,678
KRW 17.96 19.68
Cập nhật: 03/08/2025 13:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26030 26030 26390
AUD 16479 16579 17150
CAD 18536 18636 19187
CHF 31716 31746 32632
CNY 0 3599.3 0
CZK 0 1190 0
DKK 0 4100 0
EUR 29550 29650 30423
GBP 33977 34027 35137
HKD 0 3330 0
JPY 170.65 171.65 178.2
KHR 0 6.347 0
KRW 0 18.6 0
LAK 0 1.155 0
MYR 0 6400 0
NOK 0 2575 0
NZD 0 15164 0
PHP 0 430 0
SEK 0 2735 0
SGD 19794 19924 20656
THB 0 742.1 0
TWD 0 885 0
XAU 11800000 11800000 12200000
XBJ 10600000 10600000 12200000
Cập nhật: 03/08/2025 13:45
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,030 26,080 26,335
USD20 26,030 26,080 26,335
USD1 26,030 26,080 26,335
AUD 16,518 16,668 17,736
EUR 29,573 29,723 30,901
CAD 18,482 18,582 19,897
SGD 19,874 20,024 20,589
JPY 171.12 172.62 177.27
GBP 34,035 34,185 35,515
XAU 11,988,000 0 12,142,000
CNY 0 3,483 0
THB 0 778 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2025 13:45