Giá trị đầu tư hàng năm của EVN bằng 8 – 10% tổng vốn đầu tư toàn xã hội
![]() |
Ảnh minh hoạ |
Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế quốc dân, ngành năng lượng, điện lực đã có bước phát triển nhanh, về cơ bản đảm bảo nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế - xã hội. Tiêu thụ điện trong những năm gần đây tăng với tốc độ cao, bình quân 12,04%/năm trong giai đoạn 2003-2018, dự kiến điện thương phẩm năm 2018 đạt 192,1 tỷ kWh, tăng 5,5 lần so với năm 2003 (34,9 tỷ kWh).
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện cho phát triển kinh tế - xã hội, trong giai đoạn 2003-2018, EVN đã hoàn thành đưa vào vận hành 40 nhà máy điện với tổng công suất 20.586 MW, nhiều công trình nguồn điện lớn đã đưa vào vận hành vượt tiến độ như: Công trình TĐ Sơn La (2.400 MW) khánh thành ngày 23/12/2012, vượt trước thời hạn 3 năm so với Nghị quyết của Quốc hội,TĐ Lai Châu hoàn thành sớm 1 năm so kế hoạch.
Các dự án nguồn điện cấp bách miền Nam như NĐ Vĩnh Tân 2, NĐ Vĩnh Tân 4, NĐ Duyên Hải 1&3 đưa vào vận hành đúng tiến độ đã góp phần quan trong trong việc đảm bảo cung ứng điện cho miền Nam thời gian qua. Đến cuối năm 2018, tổng công suất lắp đặt nguồn điện toàn hệ thống dự kiến đạt 47.768MW (tăng 5,41 lần so với năm 2003) đứng thứ 2 trong các nước ASEAN (sau Indonesia) và thứ 25 thế giới.
Giá trị khối lượng đầu tư toàn Tập đoàn lũy kế giai đoạn 2003-2018 đạt 1.141.676 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn đầu tư năm 2018 dự kiến đạt 117.843 tỷ đồng, gấp 6,37 lần so với năm 2003 (18.489 tỷ đồng). Giá trị đầu tư hàng năm của EVN bằng 8-10% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Hải Anh
![]() |
![]() |
![]() |